View Single Post
Old 08-19-2011   #2
vuitoichat
R11 Tuyệt Thế Thiên Hạ
 
Join Date: Jan 2008
Posts: 149,337
Thanks: 11
Thanked 14,124 Times in 11,285 Posts
Mentioned: 3 Post(s)
Tagged: 1 Thread(s)
Quoted: 44 Post(s)
Rep Power: 186
vuitoichat Reputation Uy Tín Level 10vuitoichat Reputation Uy Tín Level 10vuitoichat Reputation Uy Tín Level 10vuitoichat Reputation Uy Tín Level 10vuitoichat Reputation Uy Tín Level 10
vuitoichat Reputation Uy Tín Level 10vuitoichat Reputation Uy Tín Level 10vuitoichat Reputation Uy Tín Level 10vuitoichat Reputation Uy Tín Level 10vuitoichat Reputation Uy Tín Level 10
Default

Sau đó, chính phủ VNCH ra tuyên cáo xác định chủ quyền của ḿnh trên những quần đảo ngoài khơi bờ biển VNCH:

Tuyên cáo của Chính phủ Việt Nam Cộng ḥa về chủ quyền của Việt Nam Cộng ḥa trên những đảo ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam cộng ḥa

Nghĩa vụ cao cả và cấp thiết của một chánh phủ là bảo vệ chủ quyền, độc lập và sự vẹn toàn lănh thổ của quốc gia. Chánh phủ Việt Nam Cộng Ḥa cương quyết làm tṛn nghĩa vụ này, bất luận những khó khăn trở ngại có thể gặp phải và bất chấp những sự phản đối không căn cứ dầu phát xuất từ đâu.

Trước việc Trung Cộng trắng trợn xâm chiếm bằng vũ lực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Ḥa, Chánh phủ Việt Nam Cộng Ḥa thấy cần phải tuyên cáo long trọng trước công luận thế giới cho bạn cũng như thù biết rơ rằng:

Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là những phần bất khả phân của lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa. Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Ḥa không bao giờ chịu khuất phục trước bạo lực mà từ bỏ tất cả hay một phần chủ quyền của ḿnh trên những quần đảo ấy.
Chừng nào c̣n một ḥn đảo thuộc lănh thổ ấy của Việt Nam Cộng Ḥa bị nước ngoài chiếm giữ bằng bạo lực th́ chừng ấy Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Ḥa c̣n đấu tranh để khôi phục những quyền lợi chính đáng của ḿnh.

Kẻ xâm chiếm phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi t́nh trạng căng thẳng có thể do đó mà có.
Trong dịp này, Chánh phủ Việt Nam Cộng Ḥa cũng long trọng tái xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng Ḥa trên những hải đảo nằm ở ngoài khơi bờ biển Trung Phần và bờ biển Nam Phần Việt Nam, từ trước tới nay vẫn được coi là một phần lănh thổ của Việt Nam Cộng Ḥa căn cứ trên những dữ kiện địa lư, lịch sử, pháp lư và thực tại không chối căi được.
Chánh phủ Việt Nam Cộng Ḥa cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia trên những đảo ấy bằng mọi cách.

Trung thành với chánh sách ḥa b́nh cố hữu của ḿnh, Chánh phủ Việt Nam Cộng Ḥa sẵn sàng giải quyết bằng đường lối thương lượng những vụ tranh chấp quốc tế có thể xảy ra về những hải đảo ấy, nhưng nhất định không v́ thế mà từ bỏ chủ quyền của Việt Nam Cộng Ḥa trên những phần đất này.

Làm tại Saigon, ngày 14 tháng 2 năm 1974. (14)

Hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ-10 /Nguồn: Tài liệu Hải chiến Hoàng Sa (Trần Đỗ Cẩm/Vũ Hữu San)

7. Cộng sản Việt Nam ngụy biện

Sau khi CSVN cưỡng chiếm được VNCH (Nam Việt Nam) năm 1975, tỏ ra thân thiện với Liên Xô, Trung Quốc càng ngày càng gây hấn, uy hiếp Việt Nam. Chuyện công hàm năm 1958 do Phạm Văn Đồng kư tên, ra trước dư luận trở lại. Năm 1977, Phạm Văn Đồng lần đầu tiên công khai biện minh cho hành động của ḿnh như sau:

“Lúc đó là thời kỳ chiến tranh và tôi đă phải nói như vậy.” (15)

Trung Quốc tiếp tục đe dọa, rồi tấn công Việt Nam năm 1979, “dạy cho Việt Nam [cộng sản] một bài học.” Phải chăng “bài học” nầy liên hệ đến việc CSVN chạy theo Liên Xô, quay lưng với Trung Quốc, quên những hứa hẹn của Hồ Chí Minh khi năn nỉ Mao Trạch Đông năm 1950.

Tháng 3-1988, Trung Quốc đánh chiếm thêm một số đảo trên quần đảo Trường Sa. Công hàm Phạm Văn Đồng ngày 14-9-1958 vốn đă bị nhiều chỉ trích, và cứ mỗi lần Trung Quốc manh động, gây hấn với Việt Nam, th́ lại bị dư luận chỉ trích tiếp. Để bào chữa, cuối năm 1992, Nguyễn Mạnh Cầm, uỷ viên Bộ chính trị đảng CSVN, bộ trưởng Ngoại giao của CSVN (từ 1991 đến 2000), đă ngụy biện:

Các nhà lănh đạo của chúng tôi đă có tuyên bố lúc trước về Hoàng Sa và Trường Sa dựa trên tinh thần sau: Lúc đó, theo Hiệp định Geneve 1954 về Đông Dương, các lănh thổ từ vĩ tuyến 17 về phía nam, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền miền Nam. Hơn nữa, Việt Nam đă phải tập trung tất cả các lực lượng quân sự cho mục tiêu cao nhất để chống lại cuộc chiến tranh hung hăn của Mỹ, nhằm bảo vệ nền độc lập quốc gia. Việt Nam đă phải kêu gọi sự ủng hộ của bè bạn trên toàn thế giới. Đồng thời, t́nh hữu nghị Trung-Việt rất thân cận và hai nước tin tưởng lẫn nhau. Đối với Việt Nam, Trung Quốc đă là một sự ủng hộ rất vĩ đại và trợ giúp vô giá. Trong tinh thần đó và bắt nguồn từ những đ̣i hỏi nêu trên, tuyên bố của các nhà lănh đạo của chúng tôi ủng hộ Trung Quốc trong việc tuyên bố chủ quyền của họ trên Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa] là cần thiết v́ nó trực tiếp phục vụ cho sự đấu tranh bảo vệ độc lập và tự do cho tổ quốc.

Đặc biệt thêm nữa là tuyên bố đó đă nhắm vào sự đ̣i hỏi cần thiết lúc bấy giờ để ngăn ngừa bọn tư bản Mỹ dùng những hải đảo này để tấn công chúng tôi. Nó không có dính dáng ǵ đến nền tảng lịch sử và pháp lư trong chủ quyền của Việt Nam về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

(Tuyên bố trong một buổi họp báo tại Hà Nội ngày 2/12/1992, do Thông Tấn Xă Việt Nam loan tải ngày 3/12/1992)" (15) (Người viết in đậm.)

Đúng là theo hiệp định Genève ngày 20-7-1954, các quần đảo phía nam vĩ tuyến 17 do miền Nam Việt Nam quản trị. Dầu thuộc quyền miền Nam Việt Nam, hai quần đảo nầy do ông bà tổ tiên để lại, là của chung của dân tộc Việt Nam, nên CSVN cho rằng hai quần đảo nầy “đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền miền Nam”, rồi nhượng cho Trung Quốc là quá hẹp ḥi, thiển cận và phản quốc.

Cũng nên thêm rằng lúc đó, năm 1958, Hoa Kỳ chỉ giúp đỡ Việt Nam Cộng Ḥa phát triển kinh tế, chứ Hoa Kỳ chưa đem quân vào Việt Nam, nên Nguyễn Mạnh Cầm nói rằng “để ngăn ngừa bọn tư bản Mỹ dùng những hải đảo này để tấn công chúng tôi” là hoàn toàn ngụy biện. Chỉ khi CSVN phát động chiến tranh chống miền Nam vào Đại hội III đảng Lao Động (tháng 9 năm 1960) và thành lập Mặt Trận Dân Tốc Giải Phóng Miền Nam (tháng 12-1960), đánh phá miền Nam Việt Nam, th́ 5 năm sau Hoa Kỳ mới đem quân vào miền Nam Việt Nam năm 1965.

Như thế, theo lời một uỷ viên Bộ chính trị đảng CSVN tức là một nhân vật cao cấp trong đảng CSVN, chỉ v́ cần viện trợ để tiến đánh miền Nam, “mục tiêu cao nhất” của CSVN, mà năm 1958 nhà nước VNDCCH đành bán đứng hai quần đảo do tổ tiên để lại cho Trung Quốc.

Kết luận

Tóm lại, sự bất ổn trên Biển Đông và Thái B́nh Dương ngày nay bắt nguồn từ tham vọng về biển cả của CHNDTQ do Mao Trạch Đông đưa ra vào năm 1958: “Thái B́nh Dương chỉ yên ổn khi nào chúng ta làm chủ nó.” Tham vọng nầy ảnh hưởng đến khu vực Đông Nam Á và ảnh hưởng đến Việt Nam. Trung Quốc khó có thể thực hiện tham vọng làm chủ Đông Nam Á, nhưng hiện nay Trung Quốc đang đe dọa Việt Nam trầm trọng. Khác với những lần trước, lần nầy Trung Quốc đang thực hiện kế hoặch tằm ăn dâu, lấn chiếm Việt Nam từ từ. Chẳng những chiếm đoạt các quần đảo của Việt Nam, Trung Quốc c̣n dùng sức mạnh để lấn đất, lấn biển, chiếm đoạt ngư trường, tài nguyên Việt Nam, thuê đất ở cao nguyên …

Từ xưa cho đến nay, giới lănh đạo bá quyền Trung Quốc luôn luôn t́m kiếm thời cơ xâm lăng nước ta. Lần nầy nguồn gốc hiểm họa Trung Quốc chính là đảng CSVN, kẻ đă rước quân Trung Quốc vào Việt Nam, bắt đầu từ việc Hồ Chí Minh năn nỉ Mao Trạch Đông trên chuyến tàu Moscow-Bắc Kinh năm 1950. Cộng sản Việt Nam mang ơn CSTQ quá nặng. V́ vậy, CSVN chẳng những không dám chống lại Trung Quốc, mà c̣n phải nhịn nhục, nhượng bộ Trung Quốc nhằm trả ơn và tiếp tục bám lấy quyền lực.

V́ vậy, lần nầy muốn chống lại hiểm họa Trung Quốc, trước hết người Việt phải loại bỏ cái nguồn gốc đưa đến hiểm họa, tức phải tranh đấu giải thể chế độ CSVN, tiêu diệt kẻ nội ứng, chấm dứt những cam kết ngầm của CSVN với CSTQ. Nếu không loại bỏ căn nguyên ung nhọt nầy, CSTQ cứ dựa vào những liên hệ bí mật giữa tập đoàn lănh đạo hai đảng, tiếp tục uy hiếp Việt Nam. Phía CSVN sẽ tiếp tục cúi đầu nhượng bộ Trung Quốc, tạo điều kiện cho Trung Quốc từ từ thâm nhập theo kiểu tằm ăn dâu, chiếm đóng Việt Nam, th́ nguy cơ mất nước không c̣n bao xa.

C̣n chuyện “Thái B́nh Dương chỉ yên ổn khi nào chúng ta làm chủ nó” do Mao Trạch Đông đưa ra, có lẽ măi măi là giấc mộng không thành của giới bá quyền Trung Quốc, v́ Trung Quốc có thể uy hiếp Việt Nam, đe dọa vịnh Bắc Việt, nhưng ra Thái B́nh Dương, Trung Quốc c̣n lâu mới có thể qua mặt Hoa Kỳ.

Trần Gia Phụng
Toronto, Canada

Bài do tác giả gởi. DCVOnline biên tập và minh hoạ. Chú thích của tác giả.

9. Bản dịch của Trung Tâm Dữ Kiện. (trích Internet). Quần đảo Tây Sa (Xisha) = Quần đảo Hoàng Sa = Paracel Islands. Quần đảo Nam Sa (Nansha) = Quần đảo Trường Sa = Spratly Islands. Penghu = Bành Hồ. (Muốn t́m bản Anh ngữ, xin vào Google, t́m “Declaration of the Government of the Peoples’s Republic of the China on the Territorial Sea”.)
10. Frank Ching, “Paracels Islands Dispute”, Far Eastern Economic Review, Feb 10, 1994. Bài báo nầy gồm nhiều mục. Đoạn nầy trích từ mục số 3. (Bản dịch của điện báo: BáochíVN.)

DCVOnline: Nguyên văn tựa đề bài viết của Frank Ching là “Saigon - Hanoi - Paracels Islands Dispute – 1974.” trên Far Eastern Economic Review (FEER) Vol. 157, No. 6, ngày 2 tháng Hai, 1994. FEER, “Tạp chí Kinh tế Viễn Đông” - 遠東經濟評論,Viễn Đông Kinh tế B́nh Luận - đă đóng cửa năm 2004 sau khi sát nhập với “The Wall Street Journal Asia” năm 2001. Frank Ching viết

In June 1956, two years after Ho Chi Minh’s government was re-established in Hanoi, North Vietnamese Vice Foreign Minister Ung Van Khien said to Li Zhimin, Charge d'Affaires of the Chinese Embassy in North Vietnam, that “according to Vietnamese data, the Xisha (Tây Sa = Hoàng Sa = Paracels) and Nansha (Nam Sa = Trường Sa = Spratleys) islands are historically part of Chinese territory.”

Đọc nguyên văn bản tiếng Anh đăng lại tại đây.

11. Trương Quảng Hoa, “Quyết sách trọng đại – Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp”, đăng trong “Ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp”, Tạp chí Truyền Thông xuất bản, Montreal, 2009, tt. 45-48.
12. Năm 1950 các tướng CSTQ là Trần Canh và Vi Quốc Thanh đến giúp Hồ Chí Minh. Sau trận Đồng Khê (tháng 9 và 10-1950), Trần Canh về Trung Quốc. Vi Quốc Thanh cùng đoàn cố vấn đông đảo ở lại giúp Hồ Chí Minh cho đến khi đánh trận Điện Biên Phủ năm 1954. (Xin xem “Ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp”, Tạp chí Truyền Thông xuất bản, Montreal, 2009.)
13. Qiang Zhai, China & The Vietnam Wars, 1950-1975, The University of North Carolina Press, 2000, tr. 47.
14. Tập san Sử Địa, số 29. Đăng lại: http://nguyenxuandien.blogspot.com/2...-anh-thep.html
15. Frank Ching, báo đă dẫn. Bản dịch tiếng Việt trích từ điện báo BáochíVN.


DECLARATION OF THE GOVERNMENT
OF THE PEOPLE'S REPUBLIC OF CHINA
ON THE TERRITORIAL SEA
(Approved by the 100th Session of the Standing Committee
of the National People's Congress on 4th September, 1958)

The People's Republic of China hereby announces:

(1) This width of the territorial sea of the People's Republic of China is twelve national miles. This provision applies to all Territories of the People's Republic of China, including the mainland China and offshore islands, Taiwan (separated from the mainland and offshore islands by high seas) and its surrounding islands, the Penghu Archipelago, the Dongsha Islands, the Xisha islands, the Zhongsha Islands, the Nansha Islands and other islands belonging to China.

(2) The straight lines linking each basic point at the mainland's coasts and offshore outlying islands are regarded as base lines of the territorial sea of the mainland China and offshore islands. The waters extending twelve nautical miles away from the base lines are China's territorial sea. The waters inside the base lines, including Bohai Bay and Giongzhou Strait, are China's inland sea. The islands inside the base lines, including Dongyin Island, Gaodeng Island, Mazu Inland, Baiquan Island, Niaoqin Island, Big and Small Jinmen Islands, Dadam Island, Erdan Island and Dongding Island, are China's inland sea islands.

(3) Without the permit of the government of the People's Republic of China, all foreign aircrafts and military vessels shall not be allowed to enter China's territorial sea and the sky above the territorial sea.

Any foreign vessel sailing in China's territorial sea must comply with the relevant orders of the government of the People's Republic of China.

(4) The above provisions (2) and (3) also apply to Taiwan and its surrounding islands, the Penghu Islands, the Dongsha Islands, the Xisha Islands, the Zhongsha Islands, the Nansha Islands and other islands belonging to China.

Taiwan and Penghu are still occupied with force by the USA. This is an illegality violating the People's Republic of China's territorial integrity and sovereignty. Taiwan and Penghu are waiting for recapture. The People's Republic of China has rights to take all appropriate measures to recapture these places in due course. It is China's internal affairs which should not be interfered by any foreign country.

Trích từ nguồn: http://law.hku.hk/clsourcebook/10033.htm
vuitoichat_is_offline  
Quay về trang chủ Lên đầu Xuống dưới Lên 3000px Xuống 3000px
 
Page generated in 0.10910 seconds with 10 queries