|
R10 Vô Địch Thiên Hạ
Join Date: Dec 2006
Posts: 88,250
Thanks: 11
Thanked 3,751 Times in 3,090 Posts
Mentioned: 5 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 8 Post(s)
Rep Power: 110
|
Những cản trở có tính cơ cáu
Ngoài ra, TQ đang đối đầu với những trở ngại chính trị, môi trường, và cơ cấu, những trở ngại sẽ giới hạn tăng trưởng kinh tế của TQ trong tương lai. Chẳng hạn, nhiều nhà phân tích thời sự cho rằng TQ sẽ không thể đưa công nghiệp toàn cầu của ḿnh lên tŕnh độ cao hơn nữa nếu chính trị TQ không cởi mở. Họ lư luận rằng các hoạt động công nghiệp có giá trị cao, như tạo thương hiệu, thiết kế, và phát minh, đ̣i hỏi một loại tư duy tự do chỉ có được ở các xă hội dân chủ. Mặc dù có thể đào tạo hàng trăm ngh́n kỹ sư, nhưng nếu TQ vẫn tiếp tục bóp nghẹt sáng kiến của họ, những chuyên viên này sẽ không bao giờ thành công ở tŕnh độ cao nhất của kinh tế toàn cầu. TQ sẽ không vươn tới đẳng cấp cao nhất của kinh tế toàn cầu (tính theo GDP đầu người) cho đến khi nào trường học, xí nghiệp, và người dân TQ biết đổi mới nhiều hơn họ đă làm trong quá khứ. Việc đổi mới đang diễn ra, nhưng văn hóa chính trị bóp nghẹt tự do của TQ đang cản trở tiến tŕnh này. Thật khó tưởng tượng được một nền kinh tế tri thức năng động xuất hiện trong một quốc gia độc đảng áp bức chính trị; việc này chưa bao giờ xảy ra trước đây.
Những trở ngại v́ lư do môi trường đối với sự tăng trưởng liên tục của TQ thường được thống kê đầy đủ hơn. Cơ quan Y tế Thế giới ước tính rằng ô nhiễm không khí tại TQ giết chết 656.000 người một năm và ô nhiễm nước uống giết thêm 95.600 người nữa; Bộ Tài nguyên Nước của TQ ước tính rằng khoảng 300 triệu người, hai phần ba trong số này sống ở nông thôn, dựa vào nguồn nước có chứa những chất độc hại”. Theo The New York Times, những quan chức từ Quốc vụ viện TQ đă nói rằng Đập Tam Hiệp vĩ đại đang gặp phải “những vấn đề khẩn cấp… cần phải được giải quyết liên quan việc tái định cư dân chúng trong vùng, việc bảo vệ môi sinh, và ngăn ngừa tai họa địa chất”. TQ hiện nay cũng là nước thải khí nhà kính lớn nhất thế giới. Dù nạn khô hạn và lũ lụt thảm khốc xảy đến cho TQ năm nay có liên quan đến hồ sơ môi trường của TQ hay không, nhưng rơ ràng là khả năng khai thác môi trường của TQ để làm tiền nhằm nâng cao mức tăng trưởng kinh tế bất chấp cả việc tàn phá môi trường sắp đến ngày phải chấm dứt. Sự tăng trưởng kinh tế của TQ trong tương lai cần phải sạch hơn sự tăng trưởng kinh tế của nó trong quá khứ, v́ vậy sẽ tốn kém hơn. Qua một thời kỳ lâu dài có mật độ dân số cao, TQ luôn luôn có một trong những môi trường bị khai thác ráo riết nhất thế giới. Ngày nay, TQ chẳng c̣n bao nhiêu môi trường để khai thác thêm nữa.
Tuy nhiên, những trở ngại lớn nhất cho việc tăng trưởng kinh tế liên tục của TQ thuộc về cấu trúc. Măi cho đến năm 1980, TQ thực sự vẫn c̣n đóng cửa với thế giới bên ngoài; nhưng khoảng năm 1992, gần như hầu hết các thành thị TQ đều được sáp nhập vào các đặc khu kinh tế sẵn sàng đón nhận các doanh nghiệp tư và đầu tư nước ngoài. Nền kinh tế Mao-ít cực kỳ thiếu hiệu năng không c̣n nữa và đă được thay thế bằng một số công ty có sức cạnh tranh lớn nhất thế giới. Việc tạo ra nhiều thành phẩm giá trị hơn các công nghiệp nhà nước thời Cách mạng Văn hóa không phải là điều khó. Nhưng việc tạo ra nhiều thành phẩm giá trị hơn các công ty TQ có hiệu năng hiện nay sẽ là điều khó khăn hơn nhiều. Sự khó khăn này sẽ trở nên nghiêm trọng hơn do những thay đổi cấu trúc quan trọng trong nền kinh tế. Kể từ năm 1960, tuổi thọ trung b́nh tại TQ đă tăng lên từ 47 tuổi đến 74 tuổi, nhưng số con trong mỗi gia đ́nh đă giảm từ trên 5 đứa xuống dưới 2 đứa. Những ông hoàng bé ngày nay sẽ phải phụng dưỡng cha mẹ trong những năm có năng suất cao nhất của đời họ. Và vào thời điểm họ phải săn sóc thế hệ già nua, hoạt động kinh tế của TQ sẽ giảm bớt sự tập trung vào các công nghiệp chế tạo có năng suất cao và sẽ hướng tới các dịch vụ y tế có năng suất thấp. Sự thay đổi có tính cơ cấu này sẽ giới hạn thêm nữa các triển vọng tăng trưởng kinh tế của TQ trong tương lai, v́ cố gắng gia tăng năng suất trong các ngành dịch vụ sẽ là khó khăn hơn trong các ngành chế tạo, khai thác khoáng sản, và nông nghiệp. Trong quá khứ, để tận dụng lợi thế tương tự của họ đối với các nước tiên tiến, các nhà sản xuất TQ đă tập trung vào việc chế tạo để bán ra trên thị trường công nghiệp thế giới. Trong tương lai, các công ty cung cấp dịch vụ TQ sẽ không c̣n lựa chọn nào khác hơn là phải tập trung vào thị trường y tế trong nước, bất chấp việc tranh giành lợi thế kinh tế.
Hăm hở về tương lai hay tự hào về thành tích?
Nhiều nhà b́nh luận, nổi bật nhất là hai nhà nghiên cứu chính trị George Gilboy và Eric Heginbotham, gần đây đă cảnh báo về hiện tượng “châu Mỹ La-tinh hóa” TQ (the “Latin Americanization” of China), đặc biệt là sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng gia tăng tại TQ. Vào năm 2003, TQ chỉ có một tỉ phú (tính bằng đôla Mỹ); vào năm 2011, theo tạp chí Forbes, TQ có tới 115 tỉ phú. Tuy vậy, TQ vẫn c̣n là một nước nghèo: GDP đầu người tính bằng tiền tệ cứng là rất thấp tại TQ (dưới 5.000 đôla) khi so vớiBrasil,Mexico , và Nga (9.000-10.000 đôla), ba nước có lợi tức trung b́nh của thế giới. Nhưng khi TQ bắt kịp các nước này, th́ mức chênh lệch lợi tức của dân TQ cũng sẽ tăng lên gần mức chênh lệch lợi tức tại các nước nói trên.
TQ có chung nhiều đặc điểm vớiBrazil,Mexico , và Nga. Các nhà xă hội học xếp bốn nước này vào “nhóm lưng chừng” (semi-periphery) của kinh tế thế giới, một nhóm các quốc gia không giàu mạnh bằng các nước dân chủ đă phát triển nhưng cũng không nghèo bằng các nước nhỏ tại châu Phi, Trung Mỹ, và Đông Nam Á. (Các nước lưng chừng khác gồm có Indonesia và Thổ Nhĩ Kỳ). Những nước này có đặc tính là: nhà nước mạnh nhưng các định chế th́ yếu kém, Chính phủ bị những công dân giàu có nhất chi phối, và đại đa số dân chúng là nghèo khổ.
Với mức tăng trưởng hiện nay, TQ có thể sẽ bắt kịp Brazil, Mexico, và Nga vào khoảng năm 2020 về GDP tính theo đầu người. Đến lúc đó, tất cả bốn quốc gia này sẽ có lợi tức đầu người từ 10.000 đến 15.000 đôla Mỹ mỗi năm (tính theo trị giá đôla Mỹ hiện nay). Tất cả những nước này sẽ có mức chênh lệch lợi tức của người dân giống nhau – và cao hơn mức chênh lệch lợi tức tại các nước phát triển rất nhiều. Dân chúng của các nước này sẽ không trải qua nạn đói hay suy dinh dưỡng nghiêm trọng, nhưng đại đa số sẽ nếm mùi nghèo khổ, thiếu vệ sinh. Khoảng 40% dân số của các nước này sẽ sống trong các đại đô thị, khoảng 20% sẽ sống ở vùng nông thôn, và phần c̣n lại sẽ sống trong các thành phố nhỏ và các thị xă. Sinh suất tại những nước này sẽ giảm xuống dưới mức thay thế một chút, và khoảng 2/3 dân số sẽ nằm trong lứa tuổi từ 16 đến 65. Để đối phó với một dân số già nua nhanh chóng, những nước này sẽ cần phải chuyển trọng tâm nền kinh tế của ḿnh xa dần các công nghiệp có khả năng thúc đẩy tăng trưởng và tiến tới các dịch vụ y tế có mức tăng trưởng chậm chạp.
Tất cả những điều nói trên nêu lên câu hỏi này: Nếu vào năm 2020, TQ gần như chắc chắn sẽ đối phó các t́nh trạng cơ cấu xă hội-kinh tế gần giống hệt các t́nh trạng ở Brazil, Mexico, và Nga, th́ tại sao ta phải kỳ vọng TQ sẽ tăng trưởng nhanh hơn các nước ấy?BrazilvàMexi cođă gia nhập hàng ngũ các nước có lợi tức trung b́nh qua nhiều thế hệ rồi. Nga lọt vào mức lợi tức trung b́nh vào đầu thế kỷ 20 và đă trở lại mức lợi tức này ngay sau khi chế độ cộng sản sụp đổ. TQ đă nằm ở mức lợi tức trung b́nh năm 1870, và hiện nay đă trở lại mức đó. Đành rằng TQ lớn hơn các nước kia, nhưng ta không có lư do để cho rằng nước lớn th́ sẽ khác hơn. Những con số thống kê lịch sử cho thấy không có sự tương quan giữa diện tích của một nước với sự tăng trưởng kinh tế của nó.
Địa vị tương đối của TQ vào năm 2020 sẽ rất giống với địa vị của TQ năm 1870 và giống địa vị của Brazil, Mexico, và Nga hiện nay. Không có lư do đặc thù nào để tin rằng TQ của năm 2020 sẽ thành công vượt trội hơn các quốc gia đă từng thành công nói trên. Có lẽ thái độ biết tiên liệu của TQ đối với vấn đề phát triển sẽ pho phép nước này đủ sức đi vào mức trung b́nh trong bảng phân phối lợi tức toàn cầu, bất chấp một xă hội dân sự yếu kém, một dân số già nua, và một môi trường bị tàn phá. Và một khi đă trở về được địa vị của nó ở thế kỷ XIX so với phương Tây, biết đâu cuối cùng TQ cũng có thể lấy lại địa vị siêu cường của nó đối với phương Tây ở thế kỷ XIII. Cấu trúc của một xă hội không nhất thiết là một định mệnh, [nghĩa là nó có thể thay đổi, DG]. Và nếu TQ thực sự khắc phục được những hạn chế của nó, nó cũng có thể thúc đẩy một sự sắp xếp lại toàn bộ hệ thống quốc tế.
Nhưng hợp lư hơn nữa là, ta nên coi thái độ hăm hở khét tiếng của TQ chỉ là thái độ của một nước đă đạt được một số thành tích: một sự tự hào chính đáng về những thành tựu trong quá khứ gần đây hơn là một báo hiệu về sự thành công nào trong tương lai. Cũng như những nước có lợi tức trung b́nh khác, TQ có thể sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh hơn các nước phương Tây một chút, mặc dù không nhanh như tốc độ tăng trưởng của TQ trong khoảng thời gian từ 1990 đến 2010, và với nhiều bấp bênh hơn trước. Nhưng dân số TQ sẽ bắt đầu giảm xuống liền sau năm 2020, trong khi đó dân số Mỹ sẽ tiếp tục gia tăng. V́ vậy, toàn bộ nền kinh tế TQ có thể vẫn ngang hàng với toàn bộ kinh tế Hoa Kỳ cho đến hết thế kỷ 21. Điều này không có nghĩa là TQ sẽ không đóng một vai tṛ quan trọng trên thế giới. Cho dù TQ chỉ đạt được mức độ ngang hàng với Hoa Kỳ về GDP tổng quát và đạt được chỉ khoảng 1/4 GDP đầu người của Hoa Kỳ, TQ vẫn sẽ là một cường quốc đáng nể sợ. TQ sẽ là một nước tối quan trọng thứ hai trong hệ thống quốc tế.
Nhưng với mạng lưới liên minh và địa vị địa chiến lược của Hoa Kỳ to lớn hơn nhiều, sức mạnh bá quyền Mỹ không bị đe dọa bởi sự trỗi dậy của TQ. Hoa Kỳ được bao bọc bởi những đồng minh lâu đời (Canadavà các nước Tây Âu) hay các nước ổn định nhưng yếu và không tranh giành ảnh hưởng với Hoa Kỳ (châu Mỹ La tinh). Những nước láng giềng của TQ là Nhật Bản giàu có và hùng mạnh, Nam Hàn và Việt Nam đang vươn lên, hai nước khổng lồ Ấn Độ và Nga, một loạt các quốc gia suy sụp hay đang suy sụp ở Trung Á và Đông Nam Á. Hoa Kỳ ngự trị trên các đại dương, trên các vùng trời, và ngoài khí quyển; TQ đang phải phấn đấu để duy tŕ trật tự ngay trong biên giới lănh thổ của ḿnh. TQ sẽ, và một cách chính đáng có bổn phận phải, đóng một vai tṛ ngày càng to lớn trong chính trị châu Á và thế giới, nhưng TQ không có đủ tư thế để khống chế ngay cả châu Á, đừng nói chi cả thế giới.
Các học giả uyên thâm có thể tận hưởng cơ hội này để suy đoán về một tương lai hậu-Hoa Kỳ, trong đó cả thế giới phải học tiếng Quan thoại, nhưng sự thật cho thấy rằng điều họ suy đoán sẽ không xảy ra trong thế kỷ này. Đă đến lúc ta cần bắt đầu coi TQ như một nước rộng lớn nhưng tầm thường. Phần c̣n lại của thế giới không nên ngây ngất hay lo sợ về viễn cảnh TQ sẽ khống chế thiên hạ. Dẹp qua một bên sự phóng đại và hoảng sợ, ta nên thấy ở TQ một nước đă chịu đựng một thảm kịch khủng khiếp kéo dài 200 năm và cuối cùng đang trở lại b́nh thường. Đây là một điều tốt lành – cho TQ, cho Hoa Kỳ, và cho cả thế giới. Nếu hệ thống quốc tế bắt đầu coi TQ, và TQ bắt đầu tự coi ḿnh, như một thành viên quan trọng nhưng không phải vô địch trong hệ thống toàn cầu, th́ những sợ hăi phi lư sẽ giảm thiểu về mọi phía, và phải là như vậy. TQ trong tương lai có thể phải dồn mọi nỗ lực để thoả măn nhu cầu của dân chúng trong nước hơn là giành lấy cho ḿnh địa vị của một bá quyền toàn cầu mới.
Salvatore Babones là Giảng viên Thâm niên môn Xă hội học và Chính sách Xă hội tại Đại học Sydney, Australia.
Dịch giả gửi trực tiếp cho BVN
(Sự cường điệu và thực tế về sự trỗi dậy của Trung Quốc)
Salvatore Babones
(Foreign Affairs, tháng Chín/tháng Mười 2011)
Trần Ngọc Cư dịch
|