View Single Post
Old 01-10-2012   #3
vuitoichat
R11 Tuyệt Thế Thiên Hạ
 
Join Date: Jan 2008
Posts: 147,521
Thanks: 11
Thanked 13,995 Times in 11,161 Posts
Mentioned: 3 Post(s)
Tagged: 1 Thread(s)
Quoted: 44 Post(s)
Rep Power: 183
vuitoichat Reputation Uy Tín Level 10vuitoichat Reputation Uy Tín Level 10vuitoichat Reputation Uy Tín Level 10vuitoichat Reputation Uy Tín Level 10vuitoichat Reputation Uy Tín Level 10
vuitoichat Reputation Uy Tín Level 10vuitoichat Reputation Uy Tín Level 10
Default

Một thông báo khác, cũng được chờ đợi và không mấy gây ngạc nhiên, là chuyến đi biển thử nghiệm đầu tiên của Thi Lang, chiếc tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc. Trên thực tế, đây là một con tàu sân bay cũ được đóng từ thời Liên Xô nhưng chưa hoàn thành, và chiếc vỏ tàu rỗng được Trung Quốc mua với ư định biến thành một ṣng bạc nổi, nhưng sau đó lại phục hồi nguyên trạng. Con tàu này được cho là sẽ trở thành tàu huấn luyện của lực lượng hải quân tương lai của Trung Quốc v́ cho đến nay nó chưa mang máy bay trên boong. Như Bắc Kinh thú nhận, tàu Thi Lang không có khả năng trở thành một công cụ triển khai sức mạnh mà chí là bước khởi đầu của việc thành lập các nhóm tàu tấn công tương lai dường như đang được chuẩn bị.

Chuyên gia Jean-Vincent Brisset cũng trấn an khi nói rằng cho đến lúc này chưa có một chiếc máy bay nào trên đó. Ông dẫn lời ông Michael Schiffer, Thứ trưởng Quốc pḥng Mỹ, nói phải mất một số năm nữa con tàu này mới đạt được khả năng tác chiến tối thiểu. Mặt khác, báo cáo của Bộ Quốc pḥng Mỹ cho biết v́ Trung Quốc mới có tàu sân bay này trong năm nay nên phải đến năm 2015 con tàu này mới có thể tác chiến được.

Mỹ lo ngại bước tiến của Trung Quốc gây ảnh hưởng tới sự vượt trội lâu dài về quân sự của ḿnh ở Thái B́nh Dương. Do đó, Mỹ cáo buộc Bắc Kinh sử dụng biện pháp hung hăn chống các nước láng giềng mỗi khi xảy ra bất đồng về vấn đề lănh thổ, như ở biển Nam Trang Hoa. Ông Michael Schiffer cũng nhấn mạnh đến sự có mặt của Hải quân Trung Quốc trong vùng có thể gây ra tác động nặng nề đối với toàn vùng và sự ḱnh địch giữa các nước trong vùng có thể lại tái diễn sau một thời gian rơi vào quên lăng.

Tuy nhiên, Trung Quốc cho rằng ḿnh không có ư định bắt nạt ai và nói chương tŕnh quân sự của ḿnh chỉ là một phương tiện đơn thuần để tự vệ trước các cuộc tấn công có thể xảy ra. Mỗi lần khái niệm đe dọa được nói đến, Chính phủ Trung Quốc lại vẫn dùng luận điệu quen thuộc, nhắc đi nhắc lại rằng họ không hề có ư định sử dụng sức mạnh quân sự vào mục đích xâm hại nước khác. Bắc Kinh cũng nhấn mạnh đến việc trong số 5 nước ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, họ là nước cuối cùng có tàu sân bay.

Nhưng các nước phương Tây vẫn rất nghi ngờ trước lập luận này của Trung Quốc. Những công bố về “thành quả” quân sự của Bắc Kinh củng cố các giả thiết theo đổ nước này muốn sở hữu một lực lượng hải quân có khả năng không những chống lại được lực lượng can thiệp của Mỹ mà c̣n “áp đặt” được sự kiểm soát của Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế và thật xa hơn nữa. Trong giai đoạn đầu (đến năm 2020), “chuỗi đảo thứ nhất” có thể sẽ bao gồm Hoàng Hải, Đài Loan và toàn bộ biển Nam Trung Hoa. “Chuỗi đảo thứ hai”, một đường biên giới mới được vẽ ra cho năm 2040, có thể chạy tới tận giữa Thái B́nh Dương, bao gồm nhiều vùng, trong đó có một phần lớn của Nhật Bản, Philíppin và Inđônêxia.

Mỹ lo ngại v́ loại tên lửa mới của Trung Quốc có khả năng bắn tới Đài Loan. Chính quyền Mỹ rất quan tâm đến mối đe dọa này v́ sợ có thể bị mất sự vượt trội mà từ lâu không nước nào giành được từ tay Mỹ. Chuyên gia Jean-Vincent Brisset cho rằng mối đe dọa đó không dẫn đến hậu quả trực tiếp đối với Mỹ, song với các nước có liên quan khác th́ lại ngược lại. Các nước nằm ở ven biển Nam Trung Hoa có thể bị Hải quân Trung Quốc áp đặt sự kiểm soát của họ trên các ḥn đảo mà họ đ̣i chủ quyền, thậm chí ngay cả trong vùng đặc quyền kinh tế của các nước này. Đài Loan cũng có thể bị lọt vào một vùng biển mà không có được bất kỳ quyền tự do nào ở đó. C̣n vùng biển của Nhật Bản và Hàn Quốc cũng có thể rơi vào sự kiếm soát của Trung Quốc. T́nh h́nh đó sẽ làm nảy sinh các vụ va chạm có thể lan rộng hơn và chuyến thăm Trung Quốc của Phó Tổng thống Mỹ, Joe Biden, chắc chắn chưa mang lại được giải pháp nào cho trung và dài hạn.

Trung Quốc thường không muốn can dự vào các cuộc xung đột. Con đường để nước này đi đến vinh quang, theo chuyên gia Liselotte Odgaard, thuộc Học viện quốc pḥng Đan Mạch, không phải là các cuộc xung đột bởi lẽ nước này chưa tự khẳng định được ḿnh như một cường quốc quân sự. Cho đến lúc này, Bắc Kinh sẵn sàng thỏa hiệp để bảo đảm ốn định trong vùng về phương diện an ninh. Nói như vậy không có nghĩa là Trung Quốc sẵn sàng chấp nhận mọi thỏa hiệp v́ trong một số vấn đề, nước này không sẵn sàng nhượng bộ.

Một trong những vấn đề đó là cách nh́n nhận của nước này đối với vấn đề lănh thổ và những vùng liên quan đến lănh thổ của Trung Quốc. Đối với họ, các biển Hoa Đông và Nam Trung Hoa (Hoa Nam) thuộc lănh thổ Trung Quốc. Nhăn quan đó lại hoàn toàn trái ngược với nhăn quan của các nước láng giềng và với luật pháp quốc tế. Sở dĩ Bắc Kinh bám lấy nhăn quan đó v́ Trung Qụốc đă bị tấn công trong các thế kỷ 19 và 20. Trong các cuộc tấn công đó, Trung Quốc đă bị mất một phần lănh thố. Nay họ đ̣i lại và muốn nhập vào vùng ảnh hưởng của minh. Bắc Kinh sẽ không chấp nhận bất kỳ sự khoan nhượng nào cho đến khi các vùng lănh thố đó hoàn toàn được trả lại cho Trung Quốc. Theo chuyên gia Liselotte Odgaard, Trung Quốc tin ḿnh sở hữu các vùng lănh thổ đó đến mức thậm chí không muốn thảo luận về vấn đề này. Họ không xác định rơ ràng những yêu sách của ḿnh, cũng không muốn đưa ra lời giải thích. Đối với Bắc Kinh, sự việc là như vậy và chấm hết, không có ǵ hơn.

Như vậy, sức mạnh quân sự trở nên có ư nghĩa chiến lược đối với Trung Quốc. Người khổng lồ châu Á này đang t́m cách bảo đảm an toàn các tuyến đường hàng hải và các vùng có nhiều tài nguyên khoáng sản ở biển Nam Trung Hoa. Quả thực đây là một vùng luôn xảy ra căng thẳng xung quanh Đài Loan. Đối với Lầu Năm Góc, mọi bước tiến về quân sự của Trung Quốc đều nhằm mục đích chuẩn bị chủ yếu cho một cuộc xung đột vũ trang tiềm tàng với Đài Loan. Từ năm 1949 và sau khi lực lượng theo xu hướng dân tộc chủ nghĩa Tưởng Giới Thạch chạy trốn tới ḥn đảo này, Bắc Kinh luôn có ư định tái thống nhất Trung Quốc, tái nhập “tỉnh” này vào Đế chế Trung Hoa, thậm chí bằng vũ lực nếu cần thiết. T́nh h́nh là cực kỳ căng thẳng giữa hai người khổng lồ kinh tế xung quanh vấn đề Đài Loan: Mỹ chính thức công khai ủng hộ Đài Loan và cung cấp vũ khí cho ḥn đảo này .

Theo Lầu Năm Góc, Trung Quốc ngày càng phát triển sức mạnh của Hải quân và đă thành công trong việc lấp đầy khoảng trống về công nghệ so với các cường quốc khác. Trung Quốc đă có những nỗ lực lớn để chế tạo tên lửa có khả năng tiêu diệt tàu sân bay, nâng cấp các dàn rađa cảnh giới và gia tăng hạm đội tàu ngầm hạt nhân. Đấy là chưa nói đến những bước tiến của Trung Quốc trong lĩnh vực công nghệ vệ tinh và chiến tranh mạng. Trong những năm gần đây, Trung Quốc đầu tư lớn vào lĩnh vực quân sự và không ít nhà quan sát cho rằng nước này đang trở thành một siêu cường quân sự có ảnh hưởng toàn cầu.

Tuy nhiên, chuyên gia Liselotte Odgaard, khẳng định Trung Quốc có những bước tiến ngoạn mục trong lĩnh vực quốc pḥng, song hiện vẫn chưa phải là siêu cường quân sự và con đường để đạt được mục tiêu đó c̣n rất dài. Theo bà, phương Tây phải sáng suốt nh́n nhận sự bành trướng về quân sự của Trung Quốc khi dư luận thường nói nước này đang trở thành một siêu cường quân sự. Điều đó là hiển nhiên về kinh tế và ảnh hưởng chính trị ở quy mô toàn cầu, nhưng chưa đúng về phương diện quân sự. Sức mạnh quân sự của Trung Quốc chưa đạt tới tŕnh độ của các nước phương Tây. Vấn đề lớn nhất đối với nước này là không có hệ thống đồng minh như phương Tây. Điều đó có nghĩa là cơ cấu quân sự của Trung Quôc không lồng ghép được với cơ cấu của các nước đồng minh khác. Nếu có thể có được một hệ thống như vậy, Trung Quốc mới có thể có khả năng hành động ở quy mô toàn cầu. Nhưng đến lúc này, Trung Quốc chưa có khả năng đó.

Trung Quốc cần nhiều năm nữa mới trở thành siêu cường quân sự. Nước này cần trải qua luyện tập và tích lũy kinh nghiệm. Chắc chắn v́ lư do đó mà Bắc Kinh không muốn dấn vào các cuộc xung đột không trực tiếp liên quan đến ḿnh. Theo chuyên gia Liselotte Odgaard, nước này vẫn đứng ở tuyến sau về phương diện quân sự và luôn t́m cách tháo ng̣i nổ các cuộc khủng hoảng và bất đồng. Trung Quốc có lợi khi sử dụng chiến lược đó v́ họ không chắc vào sức mạnh của ḿnh về mặt quân sự.

Một mặt, Bắc Kinh cho rằng họ không muốn sử dụng quân đội vào mục đích xâm lược, mặt khác, không ai có thể tin nước này không sử dụng vũ lực để bảo vệ lợi ích của ḿnh. Nói Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực để chống lại các nước láng giềng là một giới hạn không nên vượt qua. Sự cáo buộc này không đáng tin cậy ở chỗ quân đội Trung Quốc cần phải được tập luyện và đào tạo nhiều hơn nữa nếu muốn một ngày nào đó đọ sức với quân đội các nước phương Tây, cụ thể là Mỹ.

Theo chuyên gia Jean-Vincent Brisset, dẫụ sao giọng điệu của bản báo cáo và những lời đáp trả của Trung Quốc cũng đánh dấu sự đoạn tuyệt với những cơn giận dữ và thái độ nghi kỵ của những năm trước đây. Năm 2010 đă cho thấy mối quan hệ quân sự giữa hai nước được cải thiện sau các cuộc trao đổi ở cấp cao trong lĩnh vực này. Với một nền kinh tế thế giới vẫn mong manh, cả Mỹ và Trung Quốc có thể hiểu rơ tầm quan trọng của việc thay sự nghi kỵ bằng hợp tác vững chắc, ít nhất là trong lúc này.

Nguồn: TTXVN/ Basam
vuitoichat_is_offline  
Quay về trang chủ Lên đầu Xuống dưới Lên 3000px Xuống 3000px
 
Page generated in 0.03881 seconds with 9 queries