View Single Post
Old 07-23-2012   #2
vuitoichat
R11 Tuyệt Thế Thiên Hạ
 
Join Date: Jan 2008
Posts: 148,729
Thanks: 11
Thanked 14,086 Times in 11,248 Posts
Mentioned: 3 Post(s)
Tagged: 1 Thread(s)
Quoted: 44 Post(s)
Rep Power: 184
vuitoichat Reputation Uy Tín Level 10vuitoichat Reputation Uy Tín Level 10vuitoichat Reputation Uy Tín Level 10vuitoichat Reputation Uy Tín Level 10vuitoichat Reputation Uy Tín Level 10
vuitoichat Reputation Uy Tín Level 10vuitoichat Reputation Uy Tín Level 10vuitoichat Reputation Uy Tín Level 10vuitoichat Reputation Uy Tín Level 10
Default

Phải chăng là một định hướng mới về đường lối an ninh Việt Nam

Trên đầu năo CHXHCN Việt Nam, phần lớn các ủy viên BCT và BCHTƯ đều đồng thuận về một nước VN độc lập, đứng vững trên chính trường quốc tế (ASEN, ONU), có lợi với sự hiện diện quân sự Hoa Kỳ ở Đông-Nam Á và đối tác thương mại và chính trị cố gắng ngang hàng với TQ. Những năm gần đây, VN tiếp tục kư kết cả một loạt hiệp định đối tác chiến lược (với Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Hàn Quốc, Anh và Đức), mặc cho đôi khi làm giảm thiểu ư nghĩa chính trị. Ngoại giao VN không che dấu ư định tăng cường chân đứng trên quốc tế, đặc biệt với phương Tây.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, từ khi lên cầm quyền năm 2006, đă hướng đường lối đối ngoại VN ra ngoài phạm vi thông lệ. Trước hết với châu Âu, “nhưng sự chia rẽ của cựu lục địa, nhất là về quan điểm an ninh, đă trầm trọng khiến cho việc thực thi các lợi ích chiến lược của VN trong khu vực không thể thực hiện được”(18) ; rồi những năm gần đây là các đối tượng khác cụ thể là với các nước Bắc Á (đứng đầu là Nhật Bản và Hàn Quốc), Hoa Kỳ, ASEAN và nhất là Nga.

Người VN hy vọng Nga cuối cùng là nước có thể đủ để dựa vào lúc này nhằm ngăn chặn ảnh hưởng khu vực của TQ (19). Trong mấy thập niên gần đây, nhất là năm 2009, VN đă mua nhiều khí tài quân sự của Nga: hai tàu tuần tiễu đa chức năng Projekt 10412 Svetlak tháng 11-2001 (giao hàng năm 2003) và hai chiếc khác năm 2009 (chiếc đầu giao năm 2010 và chiếc thứ hai được hăng Almaz hạ thuỷ ở St-Petersbourg ngày 22 tháng 4-2011); một chiếc mới vừa được đặt hàng; hai tàu hộ tống tàng h́nh Gepard 3,9 năm 2006 (chiếc đầu Đinh Tiên Hoàng được giao ở Cam Ranh tháng 3-2011, chiếc thứ hai đang ở giai đoạn thử nghiệm trên biển Baltic); hai tên lửa Molnya Projekt 1241.8 (Vympel) đă giao cho VN từ 2007-2008, mười tên lửa bổ sung sẽ tiếp theo; Vympel sẽ sản xuất các bộ phận cấu thành để lắp ghép theo một hợp đồng 30 triệu đôla dự tính đến năm 2015; sáu tàu ngầm chạy bằng dầu-điện 636 MV Varshaw vyanka (tàu Kilo) năm 2009 (chiếc đầu sẽ giao năm 2013 và chiếc cuối cùng năm 2018, ước tính 1,8 tỉ đôla cộng thêm 1,1 tỉ đôla phụ cho vũ khí và thiết bị bổ sung); 20 SU-30MK2 và tàu hộ tống Gepard loại Cheetah lại được đặt năm 2009. Chỉ trong năm đó, con số hợp đồng mua vũ khí của Nga đă lên đến 4,5 tỉ đôla. Cuối cùng, một dự án hợp tác lớn được kư tháng 4-2011 với nhà máy sửa chữa Zvezdochkaen của Nga nhằm mục đích hiện đại hoá và xây dựng trung tâm dịch vụ cảng của xưởng quân giới Cam Ranh. Nhà cầm quyền VN cam kết không quốc tế hoá cảng nước sâu này sau khi người Nga ra đi năm 1992.

Ngày nay, CHXHCN Việt Nam đang suy nghĩ về khả năng để cho tàu sân bay nước ngoài (20) – trước hết phải hiểu là của Mỹ – đến tiếp vận xăng dầu. Trung tâm có thể tiến hành những sửa chữa nhỏ và vừa cho tàu ngầm và tàu mặt nước dân dụng và quân sự. Bộ Quốc pḥng thảo luận việc mời chuyên gia Nga đến đây, cũng như mua các thiết bị và kỹ thuật kiểm soát tân kỳ. Trong thời gian đầu, kỹ thuật viên Nga sẽ được sử dụng để xây dựng nhà máy sửa chữa và dịch vụ hậu cần và kỹ thuật, rồi họ có thể bảo đảm việc duy tu. Việc xây dựng trung tâm phải mất ba năm. Cuối cùng, sân bay quốc tế Cam Ranh mới phải được xây dựng từ nay đến năm 2020-2030, nhưng trước mắt quân đội VN chịu trách nhiệm mở một sân bay cấp 1 tại đó trong ṿng 5 năm. Người ta có thể hỏi mục tiêu cuối cùng của VN h́nh như có thể là để bảo đảm đúng kỳ hạn khả năng hoạt động nội bộ (dân sự và quân sự) của nơi này, để đề pḥng trường hợp xấu đi ngoài khơi Cam Ranh.

Hoa Kỳ là con bài mà VN cũng muốn tung lên trong tṛ chơi chiến lược của ḿnh, từ tuyên bố của bà Hilary Clinton về Biển Đông ở Hà Nội tháng 7-2010. Một tầng lớp cầm quyền đang lên của VN (đă theo học, dù là trong thời gian rất ngắn, một trường đại học Mỹ hay trường dạy bằng tiếng Anh để được đào tạo cấp tốc loại MBA) đang hướng về Washington. Chưa bao giờ đại sứ quán Mỹ ở Hà Nội tuyển dụng nhiều tham tán (thương mại, hợp tác kỹ thuật, v.v…) như hai năm trở lại đây. Tháng 12-2010, Lê Công Phụng, đại sứ VN, đă tiết lộ rằng quan hệ giữa hai quốc gia tốt đẹp khiến nước ông đang chuẩn bị sắp tới để kư kết đối tác chiến lược với Hoa Kỳ. Các nhà lănh đạo VN biết rằng chính thức hóa sự gần gũi đó không làm hài ḷng người láng giềng TQ, để không đi xa hơn và làm một cách công khai.

Trong khi chờ đợi, quan hệ thương mại được củng cố rơ rệt với Washington và ảnh hưởng của các nhà công nghiệp Mỹ về quốc pḥng tăng lên ở VN. Việc mở sắp tới công viên Không gian gần ngoại vi Đà Nẵng, được Nguyễn Tấn Dũng chủ tŕ cùng với người bạn doanh nhân Nguyễn Bá Thanh, bí thư Thành ủy Đà Nẵng. Khu công nghiệp sẽ đón nhận các nhà công nghiệp Hàn Quốc (khách hàng đầu tiên với một phần ba diện tích công viên, Korean Aerospace Industries-KAI) và nhiều công ty con của Airbus có quan hệ với không quân VN. Nhưng đằng sau b́nh diện đó, c̣n có tham vọng của thủ tướng VN phát triển công nghệ quốc pḥng quốc gia đang phôi thai, với sự trợ giúp của Hoa Kỳ, bằng việc lắp ráp hay sản xuất có thời hạn máy bay tiêm kích Mỹ trên đất ḿnh.

Các sự lựa chọn chiến lược VN trước sức ép TQ, cho thấy ĐCSVN hết sức lợi dụng các căng thẳng địa chính trị để tăng cường h́nh ảnh người đảm bảo cho an ninh quốc gia. Biển Đông trong tương lai sẽ là nơi diễn ra bạo lực. Căng thẳng sẽ diễn ra khi các bên cầm quyền ở TQ và ở VN cảm thấy bị đe dọa v́ những đ̣i hỏi mở cửa của nhân dân nước ḿnh. Từ 20 năm nay, phát triển kinh tế ở VN đều kèm theo tăng trưởng của lưu thông tiền tệ trong trao đổi thương mại và chính trị, một t́nh trạng thường thấy ở châu Á. Sự tham nhũng của những người cầm đầu được đẩy mạnh; tiền bạc của tăng trưởng đă tưới vào toàn bộ hệ thống nội bộ. Hà Nội biết rằng nếu đất nước phải đối mặt với những khó khăn nghiêm trọng về kinh tế, nước CHND Trung Hoa sẽ có mặt để hỗ trợ. Nhưng gánh nặng của sự hỗ trợ tài chính đó có giá của nó. Khi TQ cảm thấy nghi ngờ đầu tiên về tham nhũng trong các chính khách của ḿnh, th́ một cuộc khủng hoảng có thể xảy ra ở VN, dù có nguy cơ liên quan đến vai tṛ các gia đ́nh/gia tộc cầm quyền (21). Chính đó là điểm yếu của nó. VN bị trói buộc trong mối quan hệ đặc biệt với Bắc Kinh, kinh tế đất nước cần sự đầu tư của TQ (và mặc dù việc nhập khẩu nhân công TQ luôn luôn khiến dân chúng khó chịu), nhưng chủ nghĩa yêu nước và nhu cầu phân biệt của người Việt đối với người TQ, luôn luôn vượt qua tính duy lư của mối quan hệ lịch sử phụ thuộc xây dựng chỉ trên lợi ích của giới cầm đầu chính trị và kinh tế. Mọi thách thức trong tương lai của cặp đôi Trung-Việt là đường biên của sự thăng bằng mong manh giữa lệ thuộc và độc lập. Nước CHXHCN Việt Nam vẫn là một quốc gia nông dân được nuôi sống bằng giá trị đất đai trên đó Nhà nước hiện đại được cấy lên và phát triển trong sự va đập chồng chất lên nhau.

B. d. T.
Đào Hùng dịch
Dịch giả gửi trực tiếp cho BVN.

————————-
Chú thích:

1. Trên đảo Hoàng Sa chỉ có người TQ (chủ yếu là quân đội) và một cảng nhỏ cho ngư dân gốc Hải Nam cư trú tạm thời. Khi có băo, tàu thuyền VN được phép trú ẩn với những điều kiện ngặt nghèo. Trên đảo Trường Sa, ngược lại các đảo có thể ở được đều có người VN. Về lư lẽ phía TQ, xem Jianming Shen, “Luật quốc tế và những khác biệt lịch sử xác nhận danh nghĩa của TQ đối với các đảo trên biển Nam Trung Hoa”, Hastings International & Comparative Law Review, tập 21, 1997, tr. 1-75.

Về lư lẽ của VN, xem Lưu Văn Lợi, Khác biệt giữa Việt Nam-Trung Quốc về các đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Nxb Thế giới, Hà Nội, 1996.

2. Biển Đông là tên gọi của Hà Nội. Bắc Kinh gọi là Nam Trung Quốc hải, tức Nam Hải. Philippin gọi theo tiếng Tagalog là Dagat Timog Tsina (biển nam Trung Hoa).

3. HoànCầu Thời Báo, 10 tháng 4-2011.

4. Trao đổi ở Hà Nội, tháng 5-2011.

5. Nhà báo Vũ Quang Việt đă công bố trên mạng Thời Đại Mới (ww.tapchithoidai.or g/) một bài đ̣i hỏi trao lại một nửa quần đảo Hoàng Sa cho VN. Một nhóm Việt Kiều đă công kích dữ dội lên án ông ta là thân Trung Quốc, v́ ông ta không đ̣i thu hồi toàn bộ quần đảo đang tranh chấp.

6. Kjeld Erik Brodsgaard, Hainan, State, Society and Business in a Chinese Province, London, Routled, 2009.

7. “Trung Hoa nhân dân cộng ḥa quốc lănh hải cập tỵ liên khu pháp”, Điều 2 Mục 3 qui định (Đại cương qui hoạch phát triển cơ sở hạ tầng du lịch quốc tế đảo Hải Nam, tháng 12-2009).

8. Trung Sa là quần đảo nhỏ giáp với Philippin, nơi có băi cạn Scarborough đang tranh chấp, mà TQ gọi là Hoàng Nham (ND.)

9. Đỗ Hùng và Tấn Tú, “Thần tốc đến Trường Sa”, báo Thanh Niên, 12 tháng 5-2011.

10. Điện của Thông Tấn Xă Việt Nam, 10 tháng 5-2011.

11. Tổng giám đốc du lịch Việt Nam, ông Nguyễn Văn Tuấn, khẳng định rằng du lịch biển sẽ là ưu tiên hàng đầu của VN trong giai đoạn 2011-2020. Mục tiêu đến năm 2020, VN sẽ có 5 vùng du lịch biển lớn: Hạ Long-Cát Bà, Lăng Cô-Sơn Trà-Hội An, Nha Trang-Cam Ranh, Phan Thiết-Mũi Né và đảo Phú Quốc. Sự cấp bách của nhà cầm quyền VN là phải thiết lập một “mặt trân biển-đảo-bờ biển” (www.mattran.org.vn/home/Caccuocvd/biendao/ biendao.Htm).

12. Trao đổi ở Hà Nội, tháng 5-2011.

13. Mark E. Mayin, « U.S.-Vietnam relation in 2011 : current issues and implications for US policy », 26 tháng 7-2011.

14. Quân đội nhân dân, tháng 6-2011.

15. Thanh Niên, 9 tháng 7-2011.

16. Trao đổi ở Hà Nội, tháng 5-2011.

17. James Holmes và Toshi Yoshihara, China’s Naval Strategy in the 21st Century: The Turn to Mahan, London, Routledge, 2009.

18. Trao đổi ở Hà Nội, tháng 5-2011.

19. “Châu Âu chỉ là một đồng minh trên hồ sơ kinh tế, [nhưng] về mặt quốc pḥng, nó không vận hành được. Với nước Nga, VN làm việc tốt hơn, ngoài ra c̣n cảm thấy như hai nước có lợi ích giống nhau. Vả lại, sự sống động của một quá khứ chung gần đây [1975-1991] giải thích giới cầm đầu chính trị và kinh tế hai nước biết rơ nhau, và về mặt văn hóa, người VN và người Nga đă làm ăn tốt với nhau, sự tiến triển được dễ dàng” (trao đổi ở Hà Nội, tháng 5-2011).

20. Năm 2012, Hoa Kỳ có 11 tàu sân bay (có chiếc lớn nhất thế giới 101.000 tấn), Ư có 2 (chiếc Guiseppe-Garibaldi 14.000 tấn và Cavour 27.000 tấn), và Tây Ban Nha cũng có 2 (Principe de Asturins 17.200 tấn và Juan-Carlos I 27.000 tấn). Nước Pháp có Charles-de-Gaulle (42.000 tấn), Anh có HMS Illustrious (22.000 tấn), Braxin có Nae Sao Paulo (trước là Foch 32.000 tấn), Nga có Kuznetsov (67.500 tấn), Ấn Độ có INS Viraat (28.700 tấn), Thái Lan chiếc Chakri Naruebet (11.500 tấn) và TQ có từ 2011 chiếc Variag (đang tiến hành đặt tên lại) 67.500 tấn.

21. Cần biết thêm sự phân bổ giữa số tiền viện trợ công cho phát triển của Trung Quốc với Việt Nam, Lào và Myanmar, thông thường thấp, so với số tiền mà chính phủ chuyển cho những người đứng đầu các nước này trong từng trường hợp, để cám ơn sự hỗ trợ bên trong cho quyền lợi của TQ.
vuitoichat_is_offline  
Quay về trang chủ Lên đầu Xuống dưới Lên 3000px Xuống 3000px
 
Page generated in 0.09601 seconds with 10 queries