|
R11 Tuyệt Thế Thiên Hạ
Join Date: Aug 2007
Posts: 113,793
Thanks: 7,446
Thanked 47,186 Times in 13,138 Posts
Mentioned: 1 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 511 Post(s)
Rep Power: 162
|
THÔNG TIN Y HỌC VỀ BỆNH RỐI LOẠN LƯỠNG CỰC / BỆNH HƯNG-TRẦM CẢM
(BIPOLAR DISORDER / MANIC-DEPRESSIVE ILLNESS / MALADIE MANIACO-DÉPRESSIVE / TROUBLE BIPOLAIRE)
Lynn Ly tổng hợp thông tin về Bệnh Rối Loạn Lưỡng Cực / Bệnh Hưng-Trầm Cảm
(Bipolar Disorder / Manic-Depressive Illness / Maladie Maniaco-Dépressive /Trouble Bipolaire )
từ các bài Thời Sự Y Học của Bác Sĩ Nguyễn Văn Thịnh
Quote:
Lynn Ly chú thích từ tự điển chuyên ngành về Mental Health .
Bipolar Disorder - Also known as manic-depressive illness. This is a serious illness that causes shifts in a person’s mood, energy and ability to function. Dramatic mood swings can move from “high” feelings of extreme euphoria or irritability to depression, sometimes with periods of normal moods in between. Manic episodes may include such behaviors as prolonged periods without sleep or uncontrolled shopping. Each episode of mania or depression can last for hours, weeks or several months.
==> Rối Loạn Lưỡng Cực (Bipolar Disorder)- cũng c̣n được biết là "Bệnh Hưng - Trầm Cảm" (manic-depressive illness). Đây là một căn bệnh nghiêm trọng gây ra do sự hoán chuyển về tâm trạng / tâm t́nh, năng lực và khả năng trong con người khi hoạt động / hành động. Tâm trạng cảm xúc thay đổi đột ngột và mạnh mẽ từ cảm giác ở mức "cao trào" về hưng phấn cao độ hoặc dễ cáu gắt tiến đến trầm cảm, đôi khi với các giai đoạn của tâm trạng / tâm t́nh b́nh thường chen giữa (cảm giác hưng phấn và trầm cảm) . Những giai đoạn cuồng vọng / hưng phấn / hưng cảm (Manic episodes) có thể bao gồm những hành vi cử chỉ như trong thời gian dài bị mất ngủ hoặc việc mua sắm không tự kiểm soát được. Mỗi giai đoạn cuồng vọng / hưng phấn / hưng cảm hoặc trầm cảm có thể kéo dài hàng giờ, hàng tuần hoặc vài tháng.
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 110 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 25/1/2009 )
8/ TRẦM CẢM : ĐIỀU TRỊ MỚI VỚI TÁC DỤNG NHANH LÊN GIẤC NGỦ
Giáo sư Patrick Lemoine, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần, b́nh luận về những lợi ích của agomélatine, vừa được châu Âu cho phép thương măi hóa.
Hỏi : Làm sao phân biệt một trạng thái buồn rầu sâu nặng với một trầm cảm thật sự ?
B.S Patrick Lemoine : Tất cả chúng ta, vào một lúc nào đó trong cuộc đời, bị liên quan bởi một trạng thái trầm cảm (état dépressif). Nhưng chúng ta nói là trầm cảm với tư cách bệnh, trước sự diện hiện của hai tiểu chuẩn. 1. Khi nỗi buồn sâu xa kéo dài quá lâu (thí dụ hơn một năm sau tang chế). 2. Khi sự đau khổ tinh thần đưa đến những triệu chứng đặc hiệu, như lo lắng (angoisse), rối loạn giấc ngủ thường xuyên, rối loạn cảm giác ăn ngon, sự tŕ chậm của tư duy, của động tác, không quan tâm đến tất cả những ǵ có thể là nguồn lạc thú. Những trầm cảm này gây bệnh cho 6-8% dân số !
Hỏi : Việc xác lập chẩn đoán có tế nhị không ?
B.S P.L : Vâng, bởi v́ vài chứng trầm cảm được che dấu (dépression masquée) chỉ được thể hiện bởi những nỗi khốn khổ vật lư như đau đầu hay đau lưng. Ngoài ra có những dạng lâm sàng khác nhau của bệnh trầm cảm cần phải phân biệt rơ : 1. Chứng trầm cảm phản ứng (dépression réactionnelle) với một biến cố (ly dị, tang chế, thất nghiệp...) có thể liên quan đến rất nhiều người. 2. Chứng trầm cảm không phản ứng (dépression non réactionnelle), xảy ra trên những thể trạng di truyền đặc biệt thuận lợi. Ở đây, người ta chẩn đoán một rối loạn được gọi là lưỡng cực (trouble bipolaire): một bệnh loạn tâm thần hưng• trầm cảm (psychose maniaco-dépressive) thể hiện bằng một cảm giác buồn bă vô cùng nghiêm trọng và những cơn hưng cảm (manies), có thể dẫn đến những hành động không suy xét. 3. Trầm cảm đơn cực (dépression unipolaire) (không có những cơn hưng cảm), gồm một cực hỗn loạn rất nặng phải chịu đựng.
Hỏi : Thường làm sao điều trị những chứng trầm cảm khác nhau này ?
B.S P.L : Việc xử trí các chứng trầm cảm phản ứng (thể trung b́nh hay nặng) thường là kết hợp một điều trị bằng thuốc và một tâm lư liệu pháp nhận thức và hành vi (psychothérapie cognitive et comportementale). Những kết quả tương đối khiêm tốn : chỉ 60 đến 65% các bệnh nhân phản ứng dương tính sau 3 tuần. Đối với những trầm cảm lưỡng cực (dépressions bipolaires), điều trị chủ yếu là dược lư.Từ nhiều năm nay, người ta cho những thuốc chống trầm cảm (antidépesseurs) suốt cả cuộc đời, nhưng mới đây, người ta đă nhận ra rằng sau một thời gian nào đó, các thuốc chống trầm cảm này làm dễ những tái phát. Do đó, sơ đồ điều trị hiện nay là sau 3-6 tháng, người ta thay thế các thuốc chống trầm cảm bằng những thuốc điều ḥa tính khí (régulateurs de l’humeur) như lithium, acide valproique. Kể từ lúc thuốc điều ḥa tính khí có chất lượng tốt đă được t́m thấy, hẳn không c̣n bị tái phát nữa. Trong những trường hợp trầm cảm đơn cực (dépression unipolaire), các thuốc chống trầm cảm có thể được cho trong một thời gian dài (đôi khi được liên kết với các thuốc điều ḥa tính khí). Kết quả : 2/3 bệnh nhân được ổn định.
Hỏi : Agomélatine vừa được giấy phép châu Âu cho phép lưu hành trên thị trường. Những lợi ích của nó là gi ?
B.S P.L : Cơ chế tác dụng của nó gồm có hai : 1. Thuốc tác động lên mélatonine, hormone được tiết ra trong bóng tối, tạo một tín hiệu của giấc ngủ đối với cơ thể. 2. Thuốc có một tác dụng dương tính lên sérotonine, một chất dẫn truyền thần kinh, liên quan đến tính khí, giấc ngủ và sự ăn ngon. Dường như với thuốc này, hai tác dụng này tăng cường lẫn nhau. Tính độc đáo của điều trị là ở chỗ, do tác dụng của nó lên mélatonine, thuốc tác động rất nhanh (trong một tuần lễ) lên những rối loạn của giấc ngủ. Và do tác dụng của nó lên sétononine, thuốc là một chất chống trầm cảm hiệu quả.
Hỏi : Những công tŕnh nghiên cứu nào đă được thực hiện với phép điều trị mới nhất này ?
B.S P.L : Tác dụng của agomélatine đă được nghiên cứu từ một chục năm nay. Nhiều ngàn bệnh nhân trên thế giới đă nhận điều trị trong những thử nghiệm lâm sàng được kiểm tra. Các kết quả đă cho thấy một sự dung nạp rất tốt, một hiệu quả tốt và, nhất là, giấc ngủ nhanh chóng trở lại b́nh thường ! Một lợi ích vô cùng quan trọng, bởi v́ chính trong lúc ngủ mà các quá tŕnh sửa chữa của cơ thể được thực hiện. Và điều đó, trên b́nh diện vật lư và tâm thần. Sự trở lại những đêm ngủ bồi sức này là dấu hiệu của một sự cải thiện rơ rệt cua các cơ chế có liên hệ trong chứng trầm cảm.
(PARIS MATCH 31/12/2008-7/1/2009)
9/ CÀ PHÊ VÀ CHỨNG TRẦM CẢM
Hỏi : Những tác dụng của cà phê lên những người tiêu thụ cà phê bị chứng trầm cảm là những tác dụng nào ?
B.S Fumal : Một công tŕnh vừa được công bố về vấn đề này nơi những người trẻ. Dịch tễ học cho chúng ta biết rằng 75% đến 98% những người trẻ, trưởng thành hay chưa trưởng thành, tiêu thụ nước uống có caféine mỗi ngày và rằng 31% uống hơn hai lần mỗi ngày. Thế mà, những vấn đề về giấc ngủ là một triệu chứng chính yếu của chứng trầm cảm nơi trẻ em và thiếu niên. Trong công tŕnh nghiên cứu mà chúng tôi muốn đề cập đến, Whalen và các cộng sự viên đă xem xét tác dụng của caféine và mối liên hệ của nó với giấc ngủ nơi những người trẻ trong những môi trường tự nhiên của chúng. Th́ ra rằng những thiếu niên bị những rối loạn trầm cảm, tiêu thụ nhiều caféine hơn và có nhiều vấn đề về giấc ngủ hơn những thiếu niên lành mạnh. Những bệnh nhân trẻ tuổi cho thấy lo âu hơn trong những ngày mà họ uống cà phê. Những điều trị đă làm giảm sự tiêu thụ nhưng các triệu chứng liên quan với giấc ngủ vẫn thường xảy ra. Những kết quả này gợi ư rằng tốt hơn là khuyên những người bị trầm cảm uống cà phê có chừng mực. Nhưng chứng trầm cảm là một bối cảnh đặc biệt và những dữ kiện này đ̣i hỏi được xác nhận.
(LE MAGAZINE DES GLEMS 11/2008)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 111 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 1/2/2009 )
9/ SỰ TRUYỀN TRONG GIA Đ̀NH CỦA CÁC BỆNH TÂM THẦN
Psychiatrie : Một công tŕnh nghiên cứu được tiến hành trên 9 triệu người trong 30 năm xác nhận rằng bệnh loạn tâm thần hưng-trầm cảm (psychose maniaco-dépressive) và bệnh tâm thần phân liệt (schizophrénie) có những nguồn gốc di truyền chung. Các bệnh tâm thần vẫn là một bí ẩn đối với những thầy thuốc v́ nhiều lẽ, mặc dầu các tiến bộ về chẩn đoán và điều trị đă được thực hiện. Vào giờ phút vinh quang của phân tâm học và antipsychiatrie, những bệnh này đă được gán một phần cho những rối loạn của sự tương tác xảy ra sớm giữa mẹ và đứa con, hay là của các rối loạn của sự trao đổi trong gia đ́nh. Từ đó, nhiều cuộc điều tra đă chỉ cho thấy rằng yếu tố di truyền là quan trọng, nhưng không phải là yếu tố duy nhất gây bệnh.
Một trong những công tŕnh nghiên cứu lớn về chủ đề này, được công bố hôm nay trong tạp chí y khoa The Lancet, vừa phân tích, đối với 9 triệu người được theo dơi trong 30 năm, sự truyền bệnh trong các gia đ́nh của bệnh tâm thần phân liệt và loạn tâm thần hưng-trầm cảm. Đi từ công tŕnh nghiên cứu này, nhiều kết luận cần thiết : một mặt, hai bệnh này có những nguồn gốc chung, mặt khác, đúng là có một sự truyền di truyền đối với các bệnh này.
Để đi đến những kết quả này, tác giả, giáo sư Paul Lichtenstein, nhà dịch tễ học thuộc viện Karolinska ở Stockholm, và nhóm nghiên cứu đă đặt trong mối tương quan giữa những phiếu hộ tịch và các sổ ghi của các bệnh viện tâm thần. Họ đă sử dụng các dữ kiện liên quan đến 2 triệu gia đ́nh giữa năm 1973 và 2004. Trong dân số này, người ta đếm được 35.985 trường hợp tâm thần phân liệt và 40.487 trường hợp loạn tâm thần hưng-trầm cảm (cũng được gọi là những rối loạn lưỡng cực). Mục tiêu là xác định nguy cơ mắc bị bệnh tâm thần phân liệt hay loạn tâm thần hưng-trầm cảm, đối với một người nào đó, tùy theo trong gia đ́nh anh ta có hiện diện hay không những người bị bệnh lư này hay bệnh lư kia. Những kết quả xác nhận tính chất di truyền rơ rệt của những bệnh lư này (64% đối với tâm thần phân liệt và 59% đối với những rối loạn lưỡng cực). Nguy cơ là 9 lần quan trọng hơn khi ta có một người anh hay chị bị bệnh tâm thần phân liệt.
NHỮNG YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG
Đối với loạn tâm thần hưng trầm cảm, nguy cơ 8 lần cao hơn khi có một anh hay chị bị bệnh. Công tŕnh nghiên cứu này cũng cho thấy rằng nếu chúng ta có một người anh hay một người chị bị bệnh tâm thần phân liệt, chúng ta sẽ có 3,7 lần nguy cơ lớn hơn bị bệnh tâm thần phân liệt. Mặt khác, những con nuôi, có cha mẹ sinh học bị nhưng rối loạn lưỡng cực, cũng có một nguy cơ gia tăng phát triển bệnh tâm thần phân liệt. Sự nổi trội của di truyền đối với một khung cảnh xă hội là rơ ràng và điều này, mặc dầu những yếu tố môi trường đóng một vai tṛ không phải là không đáng kể .
Thầy thuốc tâm thần Bruno Etain, làm việc trong nhóm tâm thần học di truyền của nhóm bệnh viện Chenevier-Mondor de Créteil, đánh giá rằng lợi ích lớn của bài báo này là đă nghiên cứu một số lượng rất quan trọng các gia đ́nh trong khi những nghiên cứu trước đây chỉ được tiến hành trên vài trăm trường hợp. Bruno Etain nói rằng trong các năm qua, nhiều công tŕnh nghiên cứu đă được tiến hành để khảo sát vai tṛ của di truyền trong các bệnh này. “Thế nhưng không nên quên những yếu tố môi trường, ông đă nhấn mạnh như thế. Những yếu tố môi trường được nghi ngờ là cúm trong thời kỳ thai nghén, một vài rétrovirus nội tại, toxoplasmose và virus gây bệnh herpès. Thêm vào đó là những biến chứng sản khoa, sinh đẻ kéo dài và có biến chứng, nhiễm trùng chu sinh (infections périnatales). Nhưng cũng có vai tṛ là những tiền sử chấn thương lúc c̣n nhỏ, bị lạm dụng t́nh dục, các rối loạn cảm xúc. Mặc dầu có tính chất khoa học, di truyền không có khả năng tiên đoán tương lai.
(LE FIGARO 16/1/2009)
10/ NHỮNG TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT VÀ RỐI LOẠN LƯỠNG CỰC
Những thể nhẹ trong hai bệnh này là thường xảy ra.
Vào cuối thế kỷ XIX, khi nhà tâm thần học người Đức Krepelin lần đầu tiên đă nhận diện bệnh tâm thần phân liệt (schizophrénie) và bệnh loạn tâm thần hưng
• trầm cảm (psychose maniaco-dépressive), ông đă nhanh chóng tự hỏi không biết đó thật sự là hai bệnh lư riêng biệt hay không. Thật vậy, những bệnh này có một số những triệu chứng chung. Mặt khác, mỗi bệnh đă được mô tả trong một dạng điển h́nh, nhưng những thể nhẹ tương đối thường xảy ra hiện diện trong hai trường hợp.
Bệnh tâm thần phân liệt, được mô tả một cách nhầm lẫn như là một sự tách đôi nhân cách (dédoublement de la personalité), có liên quan đến khoảng 0,8% dân số. Những triệu chứng đầu tiên xuất hiện giữa 15 và 25 tuổi. Lúc khởi đầu, bệnh đôi khi bị lẩn lộn với một cơn tuổi thiếu niên (une crise d’adolescence), điều này làm cho chẩn đoán bị chậm lại. Bệnh được đặc trưng bởi những triệu chứng thay đổi đối với mỗi bệnh nhân, với những rối loạn được gọi là “dương tính” như ảo giác (hallucination), các cơn mê sảng (bouffées délirantes) và những triệu chứng được gọi là “âm tính” như thu rút ḿnh lại (repli sur soi), nín thinh (mutisme). Sự uống rượu và dùng chất ma túy bị cấm chỉ v́ hai lư do. Sự tiêu thụ này làm hại hiệu quả của điều trị và làm dễ những tái phát. Điều trị bằng thuốc cho phép làm giới hạn các triệu chứng. Sự hỗ trợ tâm lư (soutien psychologique), cũng như những quy tắc vệ sinh đời sống cải thiện chất lượng cuộc sống của các bệnh nhân
Bệnh loạn tâm thần hưng trầm cảm hay bệnh lưỡng cực, theo đúng nghĩa, gây bệnh cho 1% dân số. Nếu người ta tính đến những thể nhẹ, tỷ lệ này đạt đến 4%. Dạng điển h́nh được đặc trưng bởi những rối loạn tính khí, với một sự kế tiếp nhau nơi cùng bệnh nhân, những cơn hưng phấn (kích động quá mức hay sự hứng khởi khí chất), và những cơn trầm cảm. Trong thời kỳ hưng phấn, bệnh nhân có thể vui vẻ, nói nhiều, cựa quậy không yên, tư duy bị rối loạn. Mặt khác, đó là một trong những lư do bệnh nhân thường không muốn được săn sóc điều trị. Những trị liệu, các thuốc điều ḥa khí chất hay thuốc an thần, có tác dụng làm dịu sự kích động, trong khi những bệnh nhân ở giai đoạn hưng phấn cho rằng cuộc đời của họ vui hơn trước khi được điều trị. Giữa các cơn, bệnh nhân có thể có một cuộc sống b́nh thường và điều này kéo dài trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm. Với một điều trị cân đối, nói chung các bệnh nhân có một hoạt động nghề nghiệp và gia đ́nh b́nh thường.
(LE FIGARO 16/1/2009)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 11/1/2010 )
5/ TÂM THẦN HỌC : LITHIUM VẪN LÀ ĐIỀU TRỊ CĂN BẢN CỦA CÁC RỐI LOẠN LƯỠNG CỰC.
Một công tŕnh nghiên cứu lớn xác nhận vai tṛ của Lithium trong căn bệnh xen kẽ những giai đoạn kích động và trầm cảm này.
Bệnh loạn tâm thần hưng-trầm cảm (psychose maniaco-dépressive), c̣n được gọi là bệnh lưỡng cực loại 1 (maladie bipolaire de type 1), gây bệnh 1% dân chúng trong dạng “ thuần nhất ” nhưng 4% bị một dạng nhẹ (“ édulcorée ”), tuy nhiên không phải là kém phần đau khổ. Những rối loạn được gọi là lưỡng cực này, được thể hiện bởi những giai đoạn trầm cảm xen kẽ với những lúc kích động, mất ngủ, cảm giác khoái trá, những ư nghĩ vĩ đại… được phân biệt với những trầm cảm phản ứng (dépressions réactionnelles) bởi sự thiếu những yếu tố khởi động rơ ràng. Và nhất là bởi những khác nhau trong điều trị và xử trí. Đă từ nhiều năm nay, một tố bẩm di truyền mạnh có thể là nguyên nhân của những bệnh này. Một vài gia đ́nh có vẻ bị ảnh hưởng hơn so với những gia đ́nh khác.
Trái với những bệnh tâm thần nghiêm trọng khác, đối với loạn tâm thần hưng-trầm cảm và các rối loạn lưỡng cực, có những điều trị tỏ ra có hiệu quả và đảm bảo một đời sống gần như b́nh thường đối với một tỷ lệ không phải nhỏ các bệnh nhân. Nhưng rất thường những rối loạn này không được chẩn đoán tốt, gây nên một sự chậm trễ trong việc xử lư. Điều trị cơ bản không dựa vào các thuốc chống trầm cảm mà vào các thuốc điều ḥa tính khí (régulateurs de l’humeur). Tuần này, tạp chí Anh The Lancet đă xuất bản những kết quả của một thử nghiệm điều trị rất quan trọng, thử nghiệm Balance, mà những kết luận chứng minh một cách chính thức rằng điều trị hiệu quả nhất đối với các rối loạn lưỡng cực là ở chỗ kết hợp của hai thuốc điều ḥa tính khí, lithium và valproate. “ Những kết quả này rất là quan trọng, GS Chantal Henry, giám đốc trung tâm chuyên gia về những rối loạn lưỡng cực, thuộc bệnh viện Albert-Chenevier (Créteil) đă giải thích như vậy. Trước hết, những kết quả này đă có được nhờ một công tŕnh nghiên cứu độc lập của công nghiệp dược phẩm. Sau đó, chúng cho phép mang lại những câu trả lời cụ thể bằng cách xác định một loại “ gold standard ” trong điều trị những rối loạn lưỡng cực.
Thử nghiệm, được công bố trong The Lancet, đă được tiến hành bởi một mạng thế giới các thầy thuốc tâm thần chuyên về căn bệnh này. Thử nghiệm được thực hiện trên 330 bệnh nhân trong 41 trung tâm điều trị ở Anh, Ư, Pháp và Hoa Kỳ. Các bệnh nhân được chia thành 3 nhóm : những bệnh nhân của nhóm đầu tiên chỉ nhận lithium, những bệnh nhân của nhóm thứ hai chỉ nhận valproate (một thuốc chống động kinh đă tỏ ra có hiệu quả chống lại những rối loạn tính khí) và những bệnh nhân của nhóm thứ ba nhận một phối hợp của hai thứ thuốc. Tất cả những bệnh nhân này đă được điều trị và theo dơi trong hai năm.
Những kết quả cho thấy rằng 46% các bệnh nhân nhận hai loại thuốc đă không bị tái phát, đặc biệt là không có một đợt hưng phấn (manie) hay trầm uất (dépression) trong hai năm điều trị, so với 41% những bệnh nhân chỉ nhận lithium và 31% đối với những bệnh nhân chỉ nhận valproate. “ Nếu những kết quả này chỉ rơ rằng sự kết hợp của lithium và valproate cho những kết quả tốt nhất, phân tích thống kê cho thấy rằng, sự khác nhau giữa sự sử dụng hai loại thuốc kết hợp với nhau và lithium được dùng riêng rẽ, là không đáng kể, GS Chantal Henri, đă góp phần vào công tŕnh nghiên cứu này cho Pháp, đă xác nhận như vậy.
Những tác dụng ngoạn mục của lithium lên các loạn thần kinh hưng
• trầm cảm đối với một số bệnh nhân nào đó (nhưng không phải tất cả) đă được khám phá trong những năm 1970. Tuy vậy thuốc này vẫn không được sử dụng đầy đủ nhất là bởi v́ hơi khó quản lư. “ Những liều lượng điều trị không xa lắm những liều lượng gây độc, GS Henry đă nói thêm như vậy. Phải theo dơi đều đặn bệnh nhân. Ngoài ra, sức ép thương măi của các hăng được phẩm khiến các thầy thuốc cho toa những thuốc mới, dễ quản lư hơn, nhưng có vẻ ít hiệu quả hơn. Các bệnh nhân, đáp ứng tốt với lithium, thấy đời sống ḿnh thật sự thay đổi, với một sự thoái lui các giai đoạn hưng phấn và trầm cảm, thậm chí một sự biến mất đối với vài bệnh nhân. Tất cả các phân tích méta đều cho thấy rằng lithium làm giảm tỷ lệ tự tử và nhập viện nơi những bệnh nhân bị nhưng rối loạn lưỡng cực. Trong công tŕnh nghiên cứu Balance, một số quan trọng các bệnh nhân đă không tái phát chút nào.” Lithium được thương măi hóa ở Pháp dưới tên Téralithe. Sử dụng liều lượng không đúng đắn, thuốc gây nên một cảm giác khát dữ dội và một nguy cơ bị thương tổn thận và giáp trạng.
Cái khó khăn điều trị là ở chỗ sự tŕ chậm trong chẩn đoán bệnh này, nhất là trong những thể ít điển h́nh. “ Công tŕnh nghiên cứu Balance xác nhận rằng ngày nay lithium vẫn là điều trị chọn lựa của những rối loạn lưỡng cực.”, GS Chantal Henry đă kết luận như vậy.
(LE FIGARO 28/12/2009)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 15/2/2010 )
5/ BỆNH HƯNG TRẦM CẢM : MỘT CHIẾN LƯỢC MỚI.
GS Chantal Henry, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần, giải thích những lợi ích của các trung tâm chuyện khoa được thành lập ở Pháp để điều trị tốt hơn bệnh hưng-trầm cảm.
Hỏi : Những đặc điểm của rối loạn tâm thần được gọi là bệnh hưng
• trầm cảm (maladie maniaco-dépressive) hay rối loạn lưỡng cực (trouble bipolaire) là gi ?
GS Chantal Henry : Bệnh lư này (gây bệnh cho 1% dân số) là một rối loạn của khí huyết (humeur), được biểu hiện bởi một sự luân phiên của những đợt trầm cảm (épisode dépressif), những giai đoạn hưng phấn (phase d’exaltation) (cũng được gọi là épisode maniaque) và những thời kỳ ổn định. Những đợt trầm cảm có thể kéo dài nhiều tháng ; những đợt hưng phấn (épisodes maniaques) kéo dài nhiều tuần. Những người có một người bà con gần bị bệnh có một nguy cơ được nhân lên 10 lần phát triển bệnh này.
Hỏi : Tại sao những rối loạn lưỡng cực này thường gây tàn phế ?
GS Chantal Henry : Nơi những bệnh nhân này, những triệu chứng trầm cảm là những triệu chứng của một bệnh trầm cảm nặng : buồn bă, mất lạc thú, rối loạn giấc ngủ, các tư tưởng âm tính, tŕ chậm, mệt mỏi và, thường là những ư nghĩ tự tử (idées suicidaires). Những thời kỳ hưng cảm (périodes maniaques) được biểu hiện bởi một trạng thái hứng khởi (état d’exaltation), thường liên kết với một tính dễ bị kích thích mạnh (đôi khi có thể dẫn đến những hành động hung bạo), một sự kích động quan trọng, những ư nghĩ vĩ đại (idées de grandeur), một khuynh hướng quá mức (trong những tiêu xài, sự tiêu thụ rượu, và những hành vi có nguy cơ). Những hậu quả thường là bi thảm : người ta nêu lên 15% tử vong do tự tử và nhiều bệnh nhân hưng-trầm cảm làm sạt nghiệp gia đ́nh và tiêu tan nghề nghiệp.
Hỏi : Để tránh sự tiến triển của những rối loạn này, đâu là vấn đề chủ yếu ?
GS Chantal Henry : Vấn đề chủ yếu là ở chỗ xác lập chẩn đoán sớm. Trong 60% các trường hợp, bệnh bắt đầu bằng một chứng trầm cảm, các đợt hưng phấn xảy ra về sau này (nhiều tháng, thậm chí nhiều năm sau). Do đó bị chậm trễ trong việc điều trị thích đáng. Mặt khác, các thuốc chống trầm cảm, thường được cho ưu tiên một, có nguy cơ làm trầm trọng tiến triển của bệnh.
Hỏi : Để phát hiện sớm hơn những rối loạn này và xử trí tốt hơn, chiến lược mới là ǵ ?
GS Chantal Henry : Hiện nay, trong các khoa tâm thần, người ta điều trị toàn bộ các bệnh tâm thần. Không có đơn vị chuyên biệt đối với một bệnh lư nào đó. Phải công nhận rằng, trong xă hội của chúng ta, bệnh tâm thần vẫn c̣n là một chủ đề cấm kỵ và những nơi người ta điều trị bệnh này thường có tính cách vạch mặt chỉ tên. Các bệnh nhân hoăn lại trước khi đến khám bệnh, hay đến trong t́nh huống cơn bộc phát. Ngay cả các thầy thuốc gia đ́nh đôi khi khó đề nghị một thăm khám nơi thầy thuốc chuyên khoa tâm thần. Thế mà, đối với những người bị rối loạn lưỡng cực, điều trị sớm có một lợi ích chủ yếu để tránh các tái phát. Nhờ tổ chức FondaMental, những trung tâm chuyên môn điều trị và nghiên cứu, nối liền với các khoa bệnh viện, đă được thành lập để tiếp đón, cùng với những thầy thuốc chuyên khoa tâm thần chuyên về bệnh này, những bệnh nhân hưng-trầm cảm.
Hỏi : Làm sao ta có thể chẩn đoán sớm hơn một bệnh hưng-trầm cảm ?
GS Chantal Henry : Trong tám trung tâm được thành lập này, các bệnh nhân được cho thực hiện một bilan tổng quát về sức khỏe vật lư và tâm thần. Suốt trong hai ngày, những bệnh nhân này chịu một bilan lâm sàng rất hoàn chỉnh và những đánh giá khác nhau bởi một nhóm nhiều chuyên khoa (với xét nghiệm máu, điện tầm đồ, các trắc nghiệm nhận thức..). Các thầy thuốc có đủ thời gian để thực hiện một thăm khám lâm sàng rất sâu và đề nghị một điều trị thích hợp. Trong khi trước đây chúng tôi chỉ có lithium và các thuốc an thần kinh (neuroleptiques), th́ từ nay chúng tôi sẽ kê toa, tùy theo các trường hợp, những loại thuốc điều ḥa tính khí (régulateurs de l’humeur) : vài loại thuốc chống động kinh (anticonvulsants) và chống loạn tâm thần không điển h́nh (antipsychotiques atypiques). Tiến bộ khác : những liệu pháp tâm lư đặc hiệu (psychothérapie spécifique). Với những thái độ xử trí này, chúng tôi làm giảm được 50% các tái phát và những trường hợp nhập viện.
(PARIS MATCH 4/2-10/2/2010)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 16/8/2010 )
8/ BỆNH TRẦM CẢM : HƯỚNG MỚI CHỐNG LẠI CÁC RỐI LOẠN LƯỠNG CỰC.
PSYCHIATRIE. Một nhóm các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ vừa công bố một bài báo trong Archives of General Psychiatry, mang lại một cái nh́n mới về điều trị của một loại bệnh trầm cảm. Các nhà nghiên cứu đă khảo sát những hiệu quả chống trầm cảm của một thuốc gây mê để điều trị bệnh hưng phấn-trầm cảm (maniaco-dépression), một bệnh tâm thần bị mắc phải bởi các nghệ nhân như Vincent Van Gogh, Virginia Woolf, nhưng cũng những chính trị gia như Churchill.
Các rối loạn lưỡng cực có liên quan đến khoảng 4% dân số. Căn bệnh măn tính này, được đặc trưng bởi nhưng rối loạn khí chất, thường được chẩn đoán vào khoảng năm 30 tuổi. Bệnh nhân luân phiên các đợt hưng phấn (épisodes maniaques) và những lúc trầm cảm với những giai đoạn “ b́nh thường ” giữa các cơn, có thể kéo dài từ nhiều tuần đến nhiều tháng. Trong giai đoạn hưng phấn,, đó là một sự tăng hoạt tính (trí tuệ, sinh dục), có thể gây nên những xài phí không cân nhắc. Nó có thể được cặp đôi với những hành vi nghiện ngập (comportements addictifs), với một sự tiêu thụ quá mức rượu và các chất ma túy. Nhũng giây phút mà người bệnh nhân hưng phấn (maniaque) cảm thấy ḿnh trở nên vô địch và có một sức mạnh vô song, luân phiên với những đợt trầm cảm.
Khi đó bệnh nhân có những ư nghĩ đen tối, thậm chí muốn tự tử, chịu một sự tŕ chậm tâm-vận động (ralentissement psychomoteur). Điều trị cổ điển dựa trên lithium (hay một thuốc làm ổn định khí chất khác) và trên vài thuốc chống trầm cảm. Ở giai đoạn kích động, các thuốc chống loạn tâm thần (antipsychotiques) cũng có thể được kê đơn.
Đi từ điều chứng thực rằng một số bệnh nhân nào đó không đáp ứng với những điều trị này, các nhà nghiên cứu của viện quốc gia Hoa Kỳ về sức khoẻ tâm thần (Bethesda, Maryland) đă có ư tưởng trắc nghiệm các tác dụng chống trầm cảm của kétamine, một thuốc gây mê. Hiện nay, các nhà nghiên cứu chỉ có một kiến thức giới hạn về nguồn gốc sinh-thần kinh của những rối loạn lưỡng cực. Tuy nhiên, những công tŕnh mới đây gợi ư rằng một sự loạn năng trong hệ thống glutaminergique của năo bộ (đóng một vai tṛ trong việc xử lư thông tin và trí nhớ) góp phần vào sự xuất hiện của những rối loạn tâm thần. BS Nancy Diazgranados và các đồng nghiệp đă trắc nghiệm tính hiệu quả của một loại thuốc, kétamine, có khả năng kiểm soát các khớp thần kinh (synapses) này.
“ MỘT THUỐC GÂY SẢNG KHOÁI ”
Từ tháng mười 2006 đến tháng Sáu 2009, một thử nghiệm được thực hiện trên 18 bệnh nhân. Tất cả trung b́nh đă theo 7 điều trị chống trầm cảm khác nhau mà chất cơ bản là lithium hay valproate (một thuốc chống trầm cảm điều ḥa khí chất), nhưng không mang lại sự cải thiện. Ngoài ra, hơn một nửa trong số những bệnh nhân này đă không đáp ứng dương tính với sốc điện (électrochoc). Tất cả đă nhận hai mũi tiêm tĩnh mạch cách nhau 15 ngày, một mũi là kétamine, c̣n mũi kia là một placebo. Hiệu quả đă được đánh giá nhờ một thang xếp loại bệnh trầm cảm trước mỗi mũi chích rồi 40, 80, 120, 230 phút rồi một, hai, ba, bảy, mười và 14 ngày sau. Trong chưa được 40 phút, những bệnh nhân đă nhận kétamine đă được một sự cải thiện đáng kể các triệu chứng trầm cảm của họ so với những bệnh nhân đă nhận placebo. Lợi ích quan trọng nhất đă được chứng thực sau hai ngày là vẫn đáng kể cho đến ngày thứ ba.“ Những khám phá này là rất đáng lưu ư bởi v́ phần lớn các người tham gia trước đó đă nhận những điều trị khác nhau nhưng đă không có hiệu quả ”, các tác giả đă đánh giá như vậy.
“ Công tŕnh nghiên cứu này cho thấy rằng kétamine cải thiện một triệu chứng khí chất trầm cảm (humeur dépressive) nhưng không cải thiện bệnh trầm cảm, BS Xavier Laqueille, trưởng servive addictologie, bệnh viện Sainte-Anne (Paris) đă nhận xét như vậy. Mặc dầu sau khi được chích thuốc kétamine, các bệnh nhân ít buồn bă hơn, nhưng không v́ thế mà được chữa lành. Dầu sao điều này cũng hợp lư v́ lẽ đó là một dược phẩm gây khoan khoái (euphorisant) hơn là một thuốc chống trầm cảm ”. Chất này có những tác dụng thuộc loại morphine và có thể đưa đến sự lạm dụng. Hiện nay, đó là một hướng nghiên cứu đáng lưu ư để t́m ra những thuốc chống trầm cảm mới, hiệu quả lâu dài nhưng không có những tác dụng gây nghiện.
(LE FIGARO 4/8/2010)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 212 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 07/02/2010 )
10/ BỆNH HƯNG-TRẦM CẢM : NHỮNG CHIẾN LƯỢC CHỐNG TÁI PHÁT MỚI.
GS Marion Leboyer, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần, giám đốc FondaMental, giải thích chương tŕnh chẩn đoán và điều trị cá thể mới được thiết lập trong 8 trung tâm chuyên môn được thành lập bởi Fondation FondaMental.
Hỏi : Những khác nhau nào giữa bệnh hưng-trầm cảm (maladie maniaco-dépressive) và bệnh trầm cảm (dépression) ?
GS Marion Leboyer : Bệnh hưng-trầm cảm gây bệnh cho 1-5% dân số (600.000 người ở Pháp) và được thể hiện bởi sự luân phiên của các cơn trầm cảm và sự hứng khởi của khí chất (exaltation de l’humeur) (manie : hưng phấn). Một chứng trầm cảm cổ điển, bệnh lư thông thường, không bao gồm những cơn hưng phấn này. Chẩn đoán bệnh lư này thay v́ bệnh lư kia thường tế nhị, do đó 30 đến 60% là sai lầm.
Hỏi : Không điều trị, những nguy cơ của những bệnh hưng-trầm cảm này là ǵ ?
GS Marion Leboyer : Nghiêm trọng nhất, và đáng sợ nhất đối với những người chung quanh là toan tính tự tử (tentative de suicide), cứ hai bệnh nhân th́ có một bị liên hệ bởi vấn đề này. Những rối loạn khác cũng có thể xuất hiện, trong đó có nghiện rượu và các nghiện ngập, các rối loạn lo âu và sự xuất hiện những bệnh lư khác, như bệnh đái đường, bởi v́ hiếm khi bệnh nhân được theo dơi đúng đắn về mặt y tế. Không điều trị, những người bị bệnh hưng-trầm cảm, vốn rất để bị thương tổn (vulnérable), sẽ chịu một chất lượng đời sống rất kém (những vấn đề trong quan hệ xă hội, ly dị thường xuyên, thất nghiệp...).
Hỏi : Thông thường, những bệnh nhân này được điều trị như thế nào ?
GS Marion Leboyer : Cho măi đến ngày nay, các thầy thuốc đă chủ yếu quan tâm đến điều trị các cơn cấp tính trầm cảm hay hưng phấn với các thuốc chống trầm cảm (antidépresseurs), các thuốc chống loạn tâm thần (antipsychotiques) và các thuốc điều ḥa khí chất (thymorégulateurs). Giữa các cơn, ta hằng tin tưởng rằng các bệnh nhân t́m lại một cuộc sống b́nh thường.
Hỏi : Ta thu được những kết quả nào với điều trị cổ điển này ?
GS Marion Leboyer : Phải thú nhận rằng những kết quả này không được thỏa măn lắm. Ta chỉ ổn định một cách không hoàn hảo các bệnh nhân.
Hỏi : Thế th́ chiến lược mới được thiết đặt trong các centre expert bipolaire của cơ quan của bà là ǵ ?
GS Marion Leboyer : Từ ít lâu nay, người ta đă nhận thấy rằng, giữa các cơn trầm cảm và hưng phấn, vẫn tồn tại những biểu hiện rất đặc trưng.
• Những triệu chứng c̣n lại về khí chất.
• Một sự tăng phản ứng (hyperréactivité) đối với các cảm xúc.
• Những rối loạn về giấc ngủ.
• Những rối loạn nhận thức (troubles cognitifs) (trí nhớ, sự chú ư..).
• Sự phát sinh của vài bệnh liên kết (tim mạch, chuyển hóa, đái đường...). Sự tồn tại của những triệu chứng này làm dễ những tái phát và đă làm chúng ta nhận thức sự cần thiết đề nghị với mỗi bệnh nhân một bilan hoàn chỉnh và cá thể hóa giữa các cơn. Điều đó để thực hiện những điều trị thích ứng theo từng cá thể nhằm ngăn ngừa những tái phát và cải thiện tiên lượng.
Hỏi : Những chiến lược mới nhằm điều trị các rối loạn xảy ra giữa các cơn này là ǵ ?
GS Marion Leboyer : Sau một bilan sức khỏe rất hoàn chỉnh (với các trắc nghiệm về trí nhớ, khả năng chú ư...), được thực hiện trong một trong những trung tâm chuyên môn về rối loạn lưỡng cực (centre expert bipolaire) bởi một kíp đa khoa (tâm lư trị liệu, chuyên khoa tâm lư, các y tá...), ta có được một “ bức ảnh ” (photographie) thật sự của bệnh nhân. Tùy theo các kết quả, ta đề nghị một chiến lược điều trị đặc hiệu rồi ta gởi cho thấy thuốc gia đ́nh. Mỗi triệu chứng của bệnh nhân, mỗi căn bệnh liên kết sẽ là đối tượng của một điều trị thích ứng theo từng cá thể. Thí dụ ta có thể đề nghị những chiến lược nhắm đích vào giấc ngủ hay nhưng rối loạn nhận thức. Trong những trung tâm chuyên môn này, ta cũng dạy cho bệnh nhân quản lư căn bệnh của ḿnh bằng cách tham gia các nhóm giáo dục tâm lư (groupe de psychéducation). Đối với các bệnh nhân, điều rất quan trọng là phải nhận thức rằng không phải chỉ họ mới bị loại bệnh này.
Hỏi : Sự điều trị các triệu chứng sẽ làm giảm sự xuất hiện của các cơn như thế nào ?
GS Marion Leboyer : Chính tính chất cá thế hóa, do tính đến tất cả các yêu tố được thu thập trong bilan đă thực hiện, cho phép thích ứng, một cách tinh tế nhất có thể được, toàn bộ các điều trị đối với một bệnh nhân xác định.
(PARIS MATCH 27/1-2/2/2011)
|