Cụ Phan sanh năm 1796 mất năm 1867,gốc người Minh-Hương di-cư năm xưa.
Tổ-tiên cụ Phan lánh nạn quân Mãn-Thanh chạy sang Việt-Nam, cư ngụ tại làng Tân-Thạnh huyện Vĩnh-Bình, trấn Vĩnh-Thanh
(sau có lúc thuộc Vĩnh-Long, có lúc thuộc Bến-Tre).
Năm 7 tuổi ông mồ-côi mẹ,cha thì bị tù oan,hoàn-cảnh vô cùng cơ-cực.
Cụ sống nhờ tình-thương của người dì ghẻ và bà con chòm-xóm.
Cụ Phan-Thanh-Giản là Tiến-sĩ khóa Bính-Tuất năm 1826,là Tiến-sĩ đầu-tiên của Nam-Kỳ,làm quan 3 trào:Minh-Mạng, Thiệu-Trị, Tự-Đức.
Con đường hoạn-lộ của ông phải nói là vô cùng lận đận,có 7 lần ông làm cho vua rất tức giận,bị giáng-chức,cách-lưu,thậm chí phải đi theo lính Tiền-hiệu-lực .
Nhưng chỉ một thời gian ngắn ông được phục nguyên-hàm,từng bước vinh-thăng đến Cực-phẩm trào-đình.
Ông từng giữ các chức như sau:
- Thượng-thơ các bộ-hình, Bộ-lại, Bộ-binh.
- 6 lần được xung vô Cơ-mật viện Đại-thần.
- Chánh-sứ toàn-quyền Đại-thần.
Ở cương-vị nào ông cũng làm hết sức mình,dầu đang ở thời vinh-hiển nhưng ông không lấy đó làm kiêu-hãnh,chẳng những vậy ông còn có 4 lần viết sớ khước từ quyền-cao chức-trọng,vua bác đi nên ông phải tuân-lịnh.
Vua ban cho ông khánh vàng với 4 chữ : LIÊM-BÌNH-CẦN-CÁN.
Năm 1862, Tự-Đức nhượng ba tỉnh Biên-Hòa, Gia-Định và Định-Tường cho Pháp.
Năm 1863 vua Tự-Đức cử ông làm Chánh-sứ sang thương-thuyết với hoàng-đế nước Pháp (và Y-Pha-Nho) xin chuộc lợi 3 tỉnh miền Đông Nam-Kỳ.
Trước khi đi ông có nói: "Nay tôi vâng-mệnh đi sứ, việc thành hay không đều tùy nước Tây, tôi chỉ biết hết lòng hết sức mà thôi”.Vua chảy nước mắt.
Tháng chạp năm 1866, cụ Phan-Thanh-Giản được cử vào Nam lo “chống giữ” ba tỉnh miền Tây.
Lúc nầy cụ Phan đã 70 tuổi.
Ngày 20 tháng 6 năm 1867, Pháp đánh chiếm Vĩnh-Long ( đã được trao trả cho trào-đình Huế trước đó vào ngày 25 tháng 5 năm 1863).
Pháp áp-đảo hoàn-toàn về quân-sự, để tránh đổ máu vô-ích, Phan-Thanh-Giản đã quyết-định trao thành, không kháng-cự, với yêu-cầu người Pháp phải bảo-đảm an-toàn cho dân chúng.
Sau đó ông tuyệt-thực suốt 17 ngày, rồi uống thuốc độc tự-tử vào ngày 4 tháng 8 năm 1867.
Vì để mất ba tỉnh miền Tây, trào-đình Huế đã xử cụ Phan án "trảm-quyết" (nhưng vì cụ đã tự vẫn nên được miễn), lột hết chức-tước và cho đục bỏ tên ở bia tiến-sĩ.
Mãi đến 19 năm sau, ngày 2 tháng 2 năm 1886 cụ Phan mới được vua Đồng-Khánh khôi-phục nguyên hàm Hiệp-tá đại-học-sĩ và cho khắc lợi tên ở bia tiến-sĩ.
Lich-sử đã cho thấy, vua Tự-Đức chủ hòa, ngăn cấm dân-chúng và sĩ-phu chống Pháp ở miền
Đông, lại bảo cụ Phan-Thanh-Giản lo chống giữ miền Tây.
Trong hoàn-cảnh khó xử, vì mục-đích mong muốn an-toàn cho dân trước một kẻ-thù có sức-mạnh vượt trội, nên đến bước đường cùng cụ Phan-Thanh-Giản phải tự chọn cái chết để giữ tròn khí-tiết.
Không thể kết-tội Phan-Thanh-Giản là bán nước,vì mục-đích của bán nước là dâng đất, dâng thành cho giặc để mưu-lợi cá-nhơn, bè nhóm, là làm tay-sai cho giặc.
Cụ Phan-Thanh-Giản mất lúc 71 tuổi, đã cống-hiến 41 năm cho đất-nước, chịu bao nỗi truân-chuyên, con đường hoạn-lộ nhục nhiều hơn vinh. Cụ Nguyễn-Đình-Chiểu, một nho-sĩ yêu-nước đã khóc cụ Phan-Thanh-Giản:
"Non-nước tan-tành hệ bởi đâu
Dàu dàu mây bạc cõi Ngao-Châu
Ba triều công-cán đôi hàng sớ
Sáu tỉnh cương-thường một gánh thâu
Ải Bắc ngày chờ tin nhạn vắng
Thành Nam đêm chạnh tiếng quyên sầu
Minh-linh chín chữ lòng son tạc
Trời-đất từ nay mặc gió thu..."
Trước khi chết cụ Phan đã dặn con cháu mình chỉ đề trên bia chín chữ “Nam-Kỳ hải-nhai
lão-thơ-sanh Phan công” (Minh-linh chín chữ), có nghĩa đây là mộ người học trò già ở góc
biển Nam-Kỳ.
Trước đây tên ông được đặt cho con lộ lớn ở Sài-Gòn,sau bị xóa,đổi thành Điện-Biên-Phủ,khắp Lục-Tỉnh cũng y vậy.
Ở Nam-Kỳ hàng trăm năm trước không có việc các nhơn-sĩ đả-kích,phê-phán cụ Phan bán-nước cầu-vinh.
Việc hài tội cụ Phan " bán-nước" chỉ xuất-hiện sau này,từ đầu thế-kỷ và xuất-phát từ các sĩ-phu bắc-kỳ.
Năm 1963 Trần-Huy-Liệu,lúc đó là Viện-trưởng Viện Sử-học nước Việt-Nam Dân-chủ Cộng-hòa kết tội cụ Phan là kẻ "bán nước",và việc này tồn-tại cho đến tận hôm nay.
Trần-Huy-Liệu là cha đẻ của Lê-Văn-Tám.
