
Bằng chứng thể hiện sự li khai của Quốc gia Việt nam
Đầu năm 1947, Pháp cử đại diện gặp Bảo Đại đề xuất về việc đàm phán thành lập một nhà nước Việt Nam độc lập. Để hậu thuẫn cho Bảo Đại đàm phán với Pháp về nền độc lập của Việt Nam, các lực lượng chính trị bao gồm Cao Đài, Hoà Hảo, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, Đại Việt Quốc dân đảng và Việt Nam Quốc dân đảng liên kết thành lập Mặt trận Quốc gia Thống nhất. Ngày 7/12/1947, tại cuộc họp trên tàu chiến Pháp ở Vịnh Hạ Long, Bảo Đại và Pháp đàm phán rồi kư kết Hiệp ước Vịnh Hạ Long. Hiệp ước thể hiện sự đồng thuận của hai bên về việc thành lập Quốc gia Việt Nam trên cơ sở nguyên tắc độc lập và thống nhất của Việt Nam trong Liên hiệp Pháp. Dù vậy nghĩa chính xác của từ “độc lập”, quyền hạn cụ thể của chính phủ mới cũng như vai tṛ chính phủ này trong cuộc chiến Việt – Pháp đang tiếp diễn không được xác định rơ. Bởi trước đó phía Pháp đă từng công nhận chính phủ Việt nam DCCH.
Theo Hiệp ước th́ Quốc gia Việt Nam sẽ có một quân đội riêng tuy nhiên phải “sẵn sàng bảo vệ bất cứ phần nào của Liên Hiệp Pháp”. Sự độc lập chính trị của nhà nước Quốc gia Việt Nam được quy định trong Hiệp ước Vịnh Hạ Long quá nhỏ nên hiệp ước này bị Ngô Đ́nh Diệm và cả những chính trị gia trong Mặt trận Quốc gia Thống nhất chỉ trích. Tuy thế tháng 3 năm 1948, Bảo Đại và Mặt trận Quốc gia Thống nhất gặp nhau tại Hương Cảng và đồng ư thành lập chính phủ lâm thời do Nguyễn Văn Xuân đứng đầu.
Ngày 5/6/1948, Quốc Gia Việt Nam lại kư kết với Pháp một Hiệp ước Vịnh Hạ Long khác với nội dung Pháp công khai và trọng thể công nhận nền độc lập của Việt Nam trước đó 6 tháng. Hiệp ước này vẫn chưa quy định cụ thể các quyền hạn của Quốc gia Việt Nam. Điều này sẽ được thỏa thuận trong các cuộc đàm phán tiếp theo. Cho đến tháng 1 năm 1949, cuối cùng Pháp cũng thỏa hiệp trước yêu cầu của Bảo Đại rằng Nam Kỳ phải nằm trong Quốc gia Việt Nam. Ngày 8 tháng 3 năm 1949, sau nhiều tháng đàm phán, Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đă kư Hiệp ước Elysée xác nhận nền độc lập của Việt Nam, chính thức thành lập Quốc gia Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, đứng đầu là Quốc trưởng Bảo Đại.
Cuối tháng 6 năm 1949, Việt Nam chính thức thống nhất dưới sự quản lư của Quốc Gia Việt Nam, Pháp chuyển giao trên danh nghĩa những chức năng hành chính cho Quốc Gia Việt Nam một cách chậm chạp. Tuy nhiên người Pháp vẫn giành cho ḿnh quyền quan sát và can thiệp đối với những vấn đề liên quan đến toàn bộ Liên Hiệp Pháp. Người Pháp c̣n có quyền tiếp cận mọi thông tin nhà nước, tham dự vào tất cả các quyết định của chính phủ và nhận một khoản nhỏ từ lợi tức quốc gia của Việt Nam.
Người Pháp nhận thức rằng sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa trên phạm vi thế giới là một xu hướng thực tế nhưng với tư cách một cường quốc, người Pháp cố gắng để có một “lối thoát danh dự”. Chính v́ thế Pháp cố kéo dài cuộc chiến cho đến năm 1954, cho tới khi bị Việt Minh đánh bại ở trận Điện Biên Phủ, mặt khác người Pháp không muốn thoả hiệp với Việt Minh v́ họ biết rằng nếu Việt Minh nắm quyền, mọi cơ sở kinh tế của Pháp trên lănh thổ Việt Nam sẽ bị quốc hữu hoá không bồi thường, Pháp sẽ mất mọi ảnh hưởng kinh tế, văn hoá, chính trị tại Việt Nam. Trong khi đó, Quốc gia Việt Nam bảo đảm tôn trọng các quyền lợi hiện hữu của Pháp.
Thực tế, Quốc gia Việt Nam lúc mới thành lập hết sức non yếu do các quyền quan trọng về quân sự, tài chính và ngoại giao đều do người Pháp nắm giữ và quyền hành cao nhất trên thực tế là Cao ủy Pháp. Tính độc lập của nhà nước Quốc gia Việt Nam bị nghi ngờ khi mà đa số kinh phí duy tŕ nó là do Pháp viện trợ, cũng như quân đội không có sĩ quan chỉ huy cấp cao người Việt. Chiếu theo Điều II trong Hiệp ước Elysée th́ Quốc gia Việt Nam có quyền trao đổi đại sứ với các nước khác nhưng Tổng thống Pháp, nhân danh Chủ tịch Liên hiệp Pháp có quyền phê chuẩn hay không chấp nhận. Tính đến đầu năm 1950 th́ có 35 quốc gia công nhận Quốc gia Việt Nam. Nhưng đến cuối năm 1950, Pháp đă kư kết các Hiệp ước với Quốc gia Việt Nam, trao trả tất cả các quyền quân sự, tài chính, ngoại giao, thuế quan, quản lư xuất nhập cảnh… cho nhà nước này. Trên danh nghĩa, Quốc gia Việt Nam chỉ c̣n phụ thuộc Pháp với tư cách một quốc gia trong khối Liên Hiệp Pháp. Tuy vậy do thiếu kinh phí, chính phủ này vẫn phải phụ thuộc vào viện trợ và sự bảo vệ của Pháp để duy tŕ hoạt động. Ví dụ, chỉ riêng việc duy tŕ quân đội đă đ̣i hỏi hơn 500 tỷ frăng viện trợ mỗi năm.
Nhà nước Quốc gia Việt Nam h́nh thành thông qua đàm phán nên nó là sản phẩm dàn xếp giữa Pháp và một số chính trị gia Việt Nam “phi cộng sản” không đi theo Chính phủ kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa. Do vậy nó không có tính chính danh, hay nói một cách khác nó là một nhà nước ly khai khỏi quốc gia Việt nam DCCH. Do vậy Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa do Hồ Chí Minh lănh đạo chưa bao giờ thừa nhận tính chính danh và hợp pháp của Nhà nước Quốc gia Việt Nam. Theo họ nó không phải là ư nguyện của người dân Việt Nam muốn được độc lập hoàn toàn, thay v́ vẫn duy tŕ một quốc gia được Pháp “bảo hộ” tương tự như thời nhà Nguyễn và xem Pháp là nước “bảo hộ” cho Quốc gia Việt Nam v́ Quốc gia Việt Nam nằm trong Liên hiệp Pháp.
I.3. Sự ra đời của nhà nước VNCH:
Việt Nam Cộng ḥa (1955–1975) là một cựu quốc gia được thành lập từ Quốc gia Việt Nam (1949–1955), sau Cuộc trưng cầu dân ư miền Nam Việt Nam, 1955, Ngô Đ́nh Diệm lên nắm quyền và truất phế quốc trưởng Bảo Đại. Việt Nam Cộng ḥa được thành lập trên cơ sở Quốc gia Việt Nam.
Trước đó, vào tháng 4.1954 th́ Hội nghị Genève bắt đầu và kư Hiệp ước vào ngày 21 tháng bảy, 1954. Đây là Hiệp ước có sự tham dự 9 phái đoàn của Anh, Hoa Kỳ, Liên Xô, Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa, Pháp, Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa, Quốc gia Việt Nam, Lào và Campuchia để tái thiết ḥa b́nh ở Đông Dương. Hiệp ước đ́nh chỉ chiến sự, tạm thời chia Việt Nam thành hai phần cho hai lực lượng Việt Minh và Liên hiệp Pháp (lưu ư là Liên hiệp Pháp chứ không phải là Quốc gia Việt Nam). Theo Hiệp ước Genève 1954, lănh thổ nước Việt Nam bị tạm chia làm hai vùng kiểm soát, lấy vĩ tuyến 17 (dọc sông Bến Hải) làm giới tuyến quân sự. Miền Bắc do lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa kiểm soát, miền Nam do lực lượng Liên hiệp Pháp, trong đó có Quốc gia Việt Nam kiểm soát, sau một thời gian, theo điều khoản của Hiệp định Genève, quân đội Pháp rút dần về nước. Hiệp ước cũng quy định 300 ngày là thời gian để chính quyền và quân đội Việt Nam Dân Chủ Cộng ḥa và Liên hiệp Pháp hoàn thành việc tập trung. Dân chúng được tự do đi lại giữa hai miền. Sau 2 năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam.
Tuy nhiên, báo cáo của CIA cho Tổng thống Mỹ Eisenhower thấy rằng khoảng 80% dân số Việt Nam sẽ bầu cho Hồ Chí Minh nếu cuộc tổng tuyển cử được thi hành, nên Hoa Kỳ đă hậu thuẫn Quốc gia Việt Nam để cuộc tuyển cử không thể diễn ra.
Nhà nước VNCH mang tính kế thừa của Quốc gia Việt nam, một nhà nước mang tính li khai do nó được h́nh thành bởi thông qua đàm phán nên nó là sản phẩm dàn xếp giữa Pháp và một số chính trị gia Việt Nam “phi cộng sản” không đi theo Chính phủ kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa. Do Nhà nước Quốc gia Việt nam không phải là ư nguyện của người dân Việt Nam muốn được độc lập hoàn toàn, mà nó vẫn là một quốc gia được Pháp “bảo hộ”. Nhà nước VNCH được h́nh thành và xây dựng trên nền tảng như vậy, hơn nữa Quốc gia Việt Nam dưới sự hậu thuẫn của Hoa kỳ t́m mọi cách để né tránh cuộc tổng tuyển cử không thể diễn ra với lư do biết chắc ḿnh sẽ thua về sự tín nhiệm của dân chúng. Chính v́ thế nên khó mà khẳng định được tính chính danh của Nhà nước VNCH. Việc quân đội cộng sản Miền Bắc đánh chiếm và giải phóng Miền Nam để thống nhất quốc gia là một việc làm chính đáng trên mọi phương diện. Đơn giản v́ họ là nhà nước xây dựng lên thông qua bầu cử tự do, dân chủ tháng 01.1946 của toàn thể đa số dân chúng khắp mọi miền Bắc, Trung, Nam với số lượng 89% cử tri tham gia.
II. Về sự thống nhất và toàn vẹn lănh thổ quốc gia
Hăy nghe các học giả, chuyên gia người Mỹ nói về cuộc chiến tranh này sẽ thấy rơ sự khách quan và trung thực của họ trong việc nh́n nhận vấn đề. Sở dĩ nói họ khách quan và trung thực cũng bởi họ không có ḷng thù hận, và hơn nữa họ không phải là nạn nhân trực tiếp của cuộc chiến tương tàn này. Năm 1972, Uỷ ban đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ tổ chức một cuộc điều trần về cuộc chiến tranh Việt Nam suốt ba ngày liền, xoay quanh chủ đề nguồn gốc, nguyên nhân của cuộc chiến tranh Việt Nam và những bài học rút ra từ đó. Bốn học giả có tên tuổi đại diện cho phong trào phản chiến Leslie Gelb, James Thomson, Arthur Schlesinger và Noam Chomsky, từng nghiên cứu nhiều về Việt Nam, được Quốc hội Mỹ mời đến báo cáo góp ư kiến cho Quốc hội về cuộc chiến tranh Việt Nam. Đánh giá về Việt Nam Cộng ḥa, giáo sư Noam Chomsky của học viện MIT đă nói: “Chính phủ Nam Việt Nam đă trở thành nơi ẩn nấp của những người Việt Nam từng đi theo Pháp trong cuộc chiến đấu chống lại nền độc lập của đất nước họ. Chính phủ Nam Việt Nam không có cơ sở thành tŕ trong nhân dân. Nó đi theo hướng bóc lột dân chúng nông thôn và tầng lớp dưới ở thành thị, trên thực tế nó là sự tiếp tục chế độ thuộc địa của Pháp”
Nhà sử học Frances FitzGerald viết: “Chiến thắng của họ (Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam) là chiến thắng của dân tộc Việt Nam – người Bắc cũng như người Nam. Khác xa với một cuộc nội chiến, cuộc đấu tranh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam là một sự khẳng định nguyên tắc thống nhất dân tộc mà chính quyền Sài G̣n đă tuyên bố ủng hộ rồi phản bội”
Bất kể Nhà nước Việt nam DCCH dẫu có biến thái, biến chất hay là cộng sản ǵ đi chăng nữa th́ họ vẫn có tính chính danh của họ. Do vậy không có bất kể lư do ǵ có thể nói việc giải phóng Miền nam thống nhất đất nước của Quân đội NDVN là hành động “Cộng sản Miền Bắc xâm lăng cướp nước VNCH (Miền Nam)” được. V́ đó là sự sỉ nhục ḷng tự trọng vốn phải có của một con người đối với dân tộc và tổ quốc của ḿnh. Đừng quên sự thống nhất và toàn vẹn lănh thổ của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc là điều bắt buộc, chỉ là sớm hay muộn hoặc khác nhau về phương thức. Tổ quốc Việt nam phải được thống nhất, giang sơn phải liền một dải – Dân tộc Việt nam phải là một. Gỉa sử quân lực VNCH dẫu không có chính danh, mà họ đủ sức mạnh để đánh bại cộng sản (trong đó có gia đ́nh tôi) để thống nhất đất nước th́ tôi cũng hoàn toàn ủng hộ, dẫu cho chúng tôi có chịu mất mát ít hay nhiều. V́ mỗi chúng ta phải biết đặt lợi ích và quyền lời của dân tộc, của tổ quốc lên trên hết.
Đó chính là lư do v́ sao hai miền của nước Đức năm xưa và Triều tiên hôm nay họ có sự khác biệt về chế độ chính trị, nhưng người của họ vẫn mong muốn và quyết tâm thống nhất đất nước bằng mọi giá.
(C̣n tiếp)
Kami
(Viết riêng cho TTHN)
Nguồn tham khảo:
1. http://tintuchangngay.info/2012/02/1...#comment-88632
2. http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%B...%E1%BB%87t_Nam
3. http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%B...%99ng_h%C3%B2a
4. http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%B...am_kh%C3%B3a_I
5. http://www.vietthuc.org/2010/08/25/n...1%BB%99ng-hoa/
*Bài viết thể hiện chính kiến riêng của tác giả Kami, không phản ảnh quan điểm của trang TTHN