
Năm 1977, tôi cầm tấm bằng Y khoa Sài Gòn còn thơm mùi mực, tình nguyện về một huyện nhỏ tỉnh Bến Tre. Má khóc, bảo con khờ. Bạn bè đứa vào Chợ Rẫy, Bình Dân... đứa bỏ ra nước ngoài. Tôi thì lên xe đò, qua phà về vùng đất phèn chua, nước mặn, rợp bóng dừa.
Bệnh viện là căn nhà tôn lụp xụp, trạm xá quân y cũ. Mùa mưa dột khắp nơi, mùa nắng thì hầm hập. Đèn điện không có, mổ ruột thừa cũng phải chuyển lên tỉnh, khoa ngoại tiểu phẫu các vết thương phần mềm dưới ánh đèn dầu, may mắn thì có đèn măng-sông. Những tháng có dịch sốt rét, bệnh nhân nằm la liệt trên những chiếc giường gỗ ọp ẹp lót chiếu.Tôi là bác sĩ đa khoa, nội ngoại sản nhi ôm hết, vừa là hộ lý, vừa là người đẩy xe chở thuốc khi cần. Ăn thì cơm độn với hạt cao lương cứng còng, nước mắm kho quẹt. Vậy mà lòng vẫn nhẹ tênh. Cứu được một đứa bé, đỡ được một ca sanh khó, phát hiện được một ca bụng ngoại khoa để kịp chuyển viện... là tôi thấy mình vô cùng tự hào, tràn đầy cảm hứng, đúng là nhiệt huyết khi người ta trẻ.
Cứ bốn, năm tháng tôi lại xin phép về Sài Gòn một chuyến. Đạp xe cà tàng từ bến xe miền Tây về nhà trong một con hẻm nhỏ quận 4. Sài Gòn lúc đó ngột ngạt, đang chập chững đổi thay. Người ta bán dần đồ đạc, lũ lượt vượt biên.... Quán xá đóng cửa. Quán cóc tràn lan. Những con đường thân quen bỗng như xa lạ.
Chiều hôm đó, tôi đạp xe ngang cầu Chữ Y . Đứng nhìn dòng kênh Tàu Hủ đen ngòm, nhớ thời sinh viên hay ra đây ăn bột chiên. Bỗng có tiếng gọi tên mình: "Ê, thy Anh!"
Tôi quay lại. Dưới chân cầu, một sạp thuốc rê nhỏ xíu. Một người đàn ông gầy nhưng rắn rỏi, mặt có vết sẹo dài từ thái dương xuống cằm, đang lom khom xắt thuốc nheo mắt nhìn tôi cười toe. Cái dáng lom khom ấy, cái cách nheo mắt nhìn đời ấy... Trời ơi, thằng Tường!
Tường học cùng tôi từ hồi đệ thất đến đệ Ngũ, trung học Võ Trường Toản. Nó ngồi cùng bàn, học không giỏi nhưng đánh lộn thì số một. Đai đen thái cực đạo. Ai ăn hiếp bạn là nó xông vào. Lên đệ Tứ, nó bỏ học. Ba nó mất, má bệnh, nó phải làm đủ nghề. Rồi đi lính, binh nhì quèn.
Vậy đó. Đứa thì học cật lực lấy 2 cái tú tài rồi vào trường Y, đứa thì bôn ba rồi vào quân trường. Hai ngã rẽ cuộc đời.
Tôi chạy tới, nắm vai nó. Vai nó gầy và cứng chắc như tre. Tường cười, hàm răng ám khói thuốc: "Tao nhận ra mày ngay. Thằng thư sinh ngày xưa, giờ nhìn sao già háp quá."
Hai đứa ngồi xuống cái ghế đẩu thấp. Tường xé miếng giấy quyến, thoăn thoắt cuốn điếu thuốc rê đưa tôi. "Làm một điếu, bác sĩ."
Nó kể. Ngày 30 tháng 4, đơn vị nó tan hàng. Về nhà, nó binh nhì nên không phải đi cải tạo. Nhưng cái lý lịch "ngụy quân" dán lên người. Xin việc cũng khó. Nó đạp xích lô vài năm. Cuối cùng kiệt sức, ra gầm cầu Chữ Y này mướn chỗ bán thuốc rê. Vợ nó bồng con bỏ đi năm ngoái, chê nó mạt. Giờ nó nuôi đứa con gái bảy tuổi, gửi bên ngoại nuôi.
"Mày thì sao? Tao nghe tụi nó nói mày về miệt dưới làm bác sĩ?" Tường rít mội hơi thuốc, hỏi.
Tôi kể chuyện bệnh xá, chuyện lội bộ chục cây số đi phun thuốc chống sốt rét, chuyện đêm đêm thức trắng vì dịch bệnh. Tường lắng nghe, không nói gì. Rồi nó vỗ đùi tôi cái đét, cười ha hả: "Tao phục mày nha, tưởng mày ra trường là được ngồi phòng máy lạnh, đếm tiền chớ."
Tôi nhìn nó. Thằng bạn từng che cho tôi khỏi mấy trận đòn của bọn du côn cổng trường. Thằng bạn từng nhường tôi ổ bánh mì. Giờ tay nó chai sần, vàng khè vì ám khói thuốc rê. Tay tôi cũng ám khói thuốc nhưng không bị chai như nó.
Trời sập tối. Ngọn đèn hột vịt trên sạp thuốc leo lét. Dòng người qua cầu vội vã, ai cũng gầy gò, hốc hác. Tường móc trong túi ra tấm hình đen trắng đã cũ: "Con bé nhà tao nè. Nó giống má nó." Con bé cười móm mém, răng cửa mất mấy cái. Tôi nghẹn lại. Trong túi tôi có mấy vỉ thuốc cảm, thuốc hạ sốt, vài viên kháng sinh mang về cho nhà. Tôi dúi hết cho nó: "Mày cầm cho con mày. Giờ thuốc này mua khó lắm."
Tường đẩy ra: "Thôi, mày để dành cho người nhà của mày đi." Tôi ấn vào tay nó: "tao trong nghề dễ mua hơn mày... Con mày thì chỉ có mày."
Tường im lặng. Ngọn đèn dầu hắt bóng hai thằng đổ dài trên mặt đất. Cùng mười lăm tuổi cắp sách tới trường. Cùng đá banh, đánh lộn, chép bài cho nhau. Vậy mà giờ đây, giòng đời xô hai đứa về hai ngã. Một thằng cầm ống nghe khám bệnh. Một thằng từng cầm súng, nay cầm dao xắt thuốc rê.
Trước khi tôi đi, Tường gói cho tôi một gói thuốc rê to: "Mày đem về dưới biếu mấy ông già. Thuốc tao ngon, không pha trộn." Tôi đưa tiền, nó gạt phắt: "Mày khinh tao à? Tình bạn hồi đó, mấy đồng bạc mua được sao?"
Tôi đạp xe qua cầu. Gió từ mặt sông thổi lên lồng lộng. Ngoái lại, thấy Tường vẫn ngồi đó, lom khom bên ngọn đèn dầu leo lét. Cái bóng nhỏ thó, cô độc.
Đêm đó về nhà, tôi không ngủ được. Gặp lại Tường, tôi mới hiểu: mỗi người một số phận. Tôi chiến đấu với bệnh tật, nghèo đói. Nó thì chiến đấu với lý lịch, với miếng cơm manh áo, với sự ghẻ lạnh xã hội. Ai cực hơn ai?
Năm tháng sau tôi lại về Sài Gòn. Việc đầu tiên là chạy ra chân cầu Chữ Y. Sạp thuốc rê không còn. Hỏi bà bán trà đá, bà nói thằng Tường bị bọn du đãng gây sự, nó không nhịn, đánh nhau. Rồi cả đám bị đưa lên phường, rồi nó nghỉ bán, không biết giờ đi đâu.
Tôi đứng chết trân.
Vấn một điếu thuốc rê cuối cùng Tường đưa hôm đó. Mùi thuốc nồng, cay xè mắt. Phải chi hôm đó tôi hỏi địa chỉ nhà nó, phải chi hôm đó chở nó về nhà mình một đêm. Phải chi ...
Tôi trở lại Giồng Trôm. Lao vào công việc như điên. Nhìn những bệnh nhân gầy gò vì thất mùa, những đứa trẻ quáng gà, suy dinh dưỡng ở bệnh xá, tôi lại nhớ tới Tường, lại nhớ con bé con nó trong tấm hình. Tôi chỉ là một thằng bác sĩ nhà quê, một thằng bác sĩ miệt vườn nhưng may mắn hơn bạn mình một chút.
Rồi thời gian cứ trôi đi. Mấy mươi năm sau, tôi chuyển về trường Y dạy các sinh viên như tôi năm xưa, cũng làm trưởng khoa của một bệnh viện thành phố. Nhưng mỗi lần đi qua cầu Chữ Y, tôi vẫn đi chậm lại. Dưới chân cầu giờ là kè đá, quán nhậu sáng choang đèn màu, tiếng loa inh ỏi. Không còn sạp thuốc rê rệu rã, không còn ngọn đèn hột vịt. Nhưng tôi biết, ở một góc ký ức nào đó, vẫn có thằng Tường ngồi cuốn điếu thuốc rê, và thằng tôi hai mươi bảy tuổi ngồi nghe bạn kể chuyện đời.
Hai ngã rẽ. Một dòng sông.
Chúng tôi đã sống qua một thời như thế.
VietBF@sưu tập