
Năm giờ rưỡi sáng, khi tiếng gà gáy vang lên trong sương sớm, ông Ba đã dắt chiếc xe đạp mini cọc cạch ra khỏi nhà. Ông là bác sĩ ở thành phố, hưu gần 15 năm, chọn về quê nghỉ dưỡng lúc cuối đời. Dân xã An Thới quen gọi ông là “bác sĩ Ba”.
Thói quen buổi sáng của ông: đạp xe một vòng ra chợ, làm một ly cà phê đen của bà Tám, một gói xôi và một buổi “họp tổ” với mấy ông bạn già cùng xã.
Quán cóc bà Tám chỉ có ba bộ bàn ghế gỗ thấp lè tè, kê dưới mái tôn lụp xụp đầu chợ, dưới bóng cây trứng cá. Trên vách là cái radio cũ, ăng-ten cột bằng dây kẽm, sáng nào cũng rè rè bản tin 6 giờ. Bạn cà phê của ông Ba là cái “tổ hưu” không ai bầu mà tự nhiên thành.
Ngồi đầu bàn là ông Sáu Khâm, đặc công về hưu, mất hai ngón tay ở biên giới Tây Nam năm 79. Kế bên là thầy Lân, giáo viên dạy Sử, người thuộc lòng từng trận đánh nhưng chưa một lần cầm súng. Đặc biệt nhất là hai người luôn ngồi đối diện nhau: ông Út Lành và ông Hai Khỏe.
Trước 1975, ông Út Lành lính Sư đoàn 18, quê gốc Long Khánh, theo vợ về đây lập nghiệp. Ông Hai Khỏe thì khác, trai xóm Chùa chính gốc, tập kết ra Bắc năm 54, rồi thành lính Sư đoàn 341, sau 75 mới về lại quê. Năm 72, có thể hai người từng nằm hai bên chiến hào ở An Lộc. Năm 68, có thể họ đã ngắm bắn nhau qua đỉnh đầu ruồi M16 và AK. Vậy mà giờ đây, sáng nào ông Hai Khỏe cũng châm điếu thuốc, rít một hơi rồi chuyền cho ông Út Lành. Hai ông giành nhau trả tiền cà phê như hai đứa trẻ.
“Sao, bữa nay thế giới có gì vui không?” Ông Ba ngồi xuống, mở trang tin tức trên điện thoại. “Gaza: Đêm không ngủ, 40 đợt không kích trút xuống trại tị nạn”. “Chiến sự Nga Ukraine ngày thứ 1500: Chưa thấy lối ra”. “Eo biển Hormuz dậy sóng: Mỹ - Iran đấu khẩu, giá dầu tăng vọt”.
Ông Hai Khỏe phả khói, cười khà: “Hồi ở Khe Sanh, tôi nằm chốt 170 ngày, đếm pháo như đếm sao. Giờ nghe Ukraine với Nga bắn nhau hoài, thấy sao khổ quá”.
Ông Ba không nói. Ông lật tay áo, vết sẹo dài như con rết bò trên bắp tay trái. Tháng 9 năm 72, Thành Cổ. Ông là y sĩ quân y, trạm phẫu tiền phương. Đêm đó, pháo dập không ngớt. Ông cáp cứu vết thương cho một tay lính trẻ măng, Bắc Việt, đạn xuyên phổi. Khâu xong, nó nắm tay ông: “Chú ơi, em không muốn chết”. Nó không qua khỏi. Sáng ra, ông lại băng bó cho một tay lính Cộng hòa, bị mảnh cối găm sâu vào đùi, miệng cứ gọi “má ơi”. Ông cũng không cứu được. Từ đó, ông sợ tiếng pháo. Sợ luôn cả sự im lặng sau tiếng pháo.
Radio chuyển sang tin quốc tế. “Rạng sáng nay, một trường học ở Rafah bị đánh sập. Ít nhất 30 trẻ em thiệt mạng...” Tiếng phát thanh viên đều đều, vô cảm. Cả bàn cà phê im phăng phắc. Chỉ có tiếng muỗng khuấy cà phê chạm vào thành ly, lách cách.
Đúng lúc đó, chợ vỡ òa tiếng cười. Đám trẻ con xóm Chùa được nghỉ hè. Thằng Tí, cháu nội ông Ba, cầm con diều giấy tự làm chạy như bay lấy gió. Con Na, cháu ngoại bà Tám, ôm quả banh nhựa đỏ chạy theo. Thằng Cò, con trai út của ông Út Lành, và con Ốc, cháu ngoại ông Hai Khỏe, nắm tay nhau cùng chạy. Bốn đứa, con cháu hai nhà “từng là kẻ thù của nhau”, giờ vui vẻ chơi chung, cùng nhau thả diều, đá banh.
Thằng Tí vấp, té oạch xuống vũng nước trước sạp cá. Đầu gối trầy, rớm máu. Nó mếu máo. Con Ốc chạy lại, không cần suy nghĩ, lấy vạt áo lau vết bẩn, rồi thổi phù phù: “Thổi hồi Tí hết đau hà”. Bà Lành bán cá mắng: “Tổ cha tụi bây, làm tao đứng tim”.
Ông Hai Khỏe nhìn cảnh đó, trầm ngâm. Ông quay sang ông Út Lành: “Hồi đó, tụi mình bị xoáy vào cuộc chiến, đâu sướng như tụi nhỏ bây giờ?” Ông Út Lành không trả lời. Ông móc túi, lấy ra cái bật lửa Zippo khắc hình cô gái, "tao lượm ở An Lộc. Giữ tới giờ. Không biết chủ nhân nó còn sống không”. Ông Hai Khỏe cầm lấy, xoay xoay, bật nắp tanh tách. “Cái này của tụi Mỹ. Tụi tao hồi đó đứa nào cũng khoái”.
Thầy Lân gõ gõ xuống mặt bàn, triết lý: “Nửa vòng trái đất thôi các ông ạ. Bên kia, 5 giờ sáng là tiếng còi báo động, tiếng bom... Mẹ kéo con chạy xuống hầm. Ở đây, 5 giờ sáng là tiếng chổi chà của bà Tám quét sân. Tiếng mẹ gọi con dậy đi học. Bên kia, đứa trẻ 10 tuổi đã biết phân biệt tiếng bom, tiếng pháo, tiếng drone. Bên này, đứa trẻ 10 tuổi chỉ biết phân biệt tiếng trống tựu trường với trống tan trường”.
Ông Sáu Khâm nãy giờ im lặng, giờ mới lên tiếng. Bàn tay mất hai ngón của ông đặt lên tờ báo, che đi tấm ảnh đứa bé Palestine mặt đầy máu. “Bởi vậy tao mới nói, mình ngồi đây chửi Mỹ, chửi Nga, chửi Israel, chửi Iran được, là vì mình đang bình yên. Cái giá của sự bình yên này, tụi mình đã trả rồi. Trả bằng máu, bằng một phần thân thể, bằng tuổi hai mươi”.
Nắng lên cao. Mái chợ ồn ào tiếng người mua bán. Mùi cá tươi, mùi rau húng, mùi mắm nêm, mắm cá linh, mùi cà phê, mùi khói đốt đồng từ xa bay về...Tất cả hòa quyện lại thành một thứ mùi đặc biệt, mùi quê nhà, mùi của bình yên.
Ông Ba nâng ly cà phê lên nhắp một ngụm. Đen, đắng, nóng. “Thôi, uống đi. Uống để tạ ơn. Tạ ơn cái mảnh đất này vẫn yên bình cho mình còn được ngồi đây tán dóc ba cái chuyện thế giới. Tạ ơn vì con Tí, con Ốc ngoài kia té chỉ trầy đầu gối, chứ không phải mất cả một phần thân thể vì bom đạn. Tạ ơn vì thằng Cò với con Na giành nhau quả banh, chứ không phải giành nhau miếng bánh mì, miếng nước ...trong trại tị nạn”.
Bốn ly cà phê cụng vào nhau, lách cách. Ông Út Lành vòng tay qua vai ông Hai Khỏe: “Ê, chiều nay qua nhà tao nhậu một chầu đi, có mớ khô cá lóc nhậu bắt lắm”. Ông Hai Khỏe cười: “Ừ. Tao mang lít rượu đế. Rượu của thằng con tao nó kháp. Chỉ là rượu quê thôi”.
Ngoài sân chợ, con diều của thằng Tí đã no gió, bay lên cao. Nó chao liệng giữa trời tháng Sáu xanh ngắt. Thằng Cò, con Ốc, con Na chạy theo, la hét, chỉ trỏ. Bóng bốn đứa đổ dài trên sân gạch.
Cách đó nửa vòng trái đất, lúc này có thể là nửa đêm. Ở Gaza, lebanon, ở Donetsk, có những đứa trẻ đang co ro trong hầm, bịt tai để không nghe tiếng pháo nổ, không thả diều, không đá banh... chỉ biết, ngày nào tiếng nổ ngưng, nghĩa là chúng còn sống thêm một ngày.
Ông Ba nhìn theo con diều, rồi nhìn sang hai người bạn già từng ở hai chiến tuyến. Bất giác, ông thấy lòng mình bình yên lạ lùng. Hòa bình, hóa ra không phải là thứ gì to tát. Nó chỉ là một buổi sáng, được thảnh thơi ngồi uống cà phê với 2 thằng “kẻ thù” năm xưa, được ngắm nhìn cháu mình chơi đùa, và biết rằng, hôm nay, ở nơi mình sống, chắc chắn không có tiếng súng tiếng bom.
VietBF@sưu tập