» Super News |
Quyền Bộ trưởng Hải quân Hung Cao ra tuyên bố sau khi John Phelan bị cách chức
New Tab ↗
|
Quyền Bộ trưởng Hải quân Hung Cao đã phát hành một video tuyên bố sau khi John Phelan bị cách chức.
Như đã đưa tin trước đó , Bộ trưởng Hải quân John Phelan đã bị Bộ trưởng Chiến tranh Pete Hegseth sa thải vào thứ Tư.
Phát ngôn viên Lầu Năm Góc Sean Parnell thông báo, Thứ trưởng Hung Cao hiện giữ chức Quyền Bộ trưởng Hải quân.
Toàn văn tuyên bố từ Sean Parnell:
Bộ trưởng Hải quân John C. Phelan sẽ rời khỏi chính quyền, có hiệu lực ngay lập tức.
Thay mặt Bộ trưởng Chiến tranh và Thứ trưởng Chiến tranh, chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với Bộ trưởng Phelan vì những đóng góp của ông cho Bộ Quốc phòng và Hải quân Hoa Kỳ.
Chúng tôi chúc anh ấy mọi điều tốt đẹp trong những dự định tương lai.
Thứ trưởng Hùng Cao sẽ đảm nhiệm chức vụ Quyền Bộ trưởng Hải quân.
Ban đầu, không rõ liệu John Phelan bị sa thải hay tự nguyện từ chức, nhưng sau đó Fox News đưa tin rằng ông ấy thực sự đã bị sa thải.
Hôm thứ Năm, tuyên bố của Tổng thống Trump cho thấy Phelan đã tự nguyện rời đi.
Toàn văn tuyên bố của Tổng thống Trump:
John Phelan là một người bạn lâu năm và là một doanh nhân rất thành đạt, người đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giữ chức Bộ trưởng Hải quân của tôi trong năm qua.
John đã giúp chính quyền của tôi tái thiết lực lượng Hải quân đang suy yếu nhanh chóng và gần như bị bỏ rơi của "Sleepy Joe Biden". Giờ đây, nhờ John và tất cả những người đàn ông và phụ nữ tuyệt vời đã tận tâm và không mệt mỏi tham gia, chúng ta có lực lượng Hải quân mạnh nhất thế giới — VƯỢT TRỘI HƠN RẤT NHIỀU!
John Phelan thông minh, mạnh mẽ và được mọi người kính trọng, và mặc dù ông ấy đã quyết định rời khỏi vị trí Bộ trưởng Hải quân, tôi rất trân trọng những gì ông ấy đã làm và chắc chắn muốn ông ấy trở lại làm việc trong chính quyền Trump vào một thời điểm nào đó trong tương lai.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến John vì những cống hiến của ông cho nước Mỹ! Tổng thống Donald J. Trump
Vào cuối ngày thứ Năm, Tổng thống Trump cho biết Phelan có mâu thuẫn với một số người.
“Ông ấy là một người rất tốt… Ông ấy là người quyết đoán, và ông ấy từng có một số mâu thuẫn với một số người khác, chủ yếu là về việc đóng và mua tàu mới,” ông Trump nói.
“Tôi rất năng nổ trong lĩnh vực đóng tàu mới, nhưng không hiểu sao ông ấy lại không hòa hợp được với họ,” ông nói.
Hùng Cao đã phát hành một video tuyên bố vào thứ Bảy.
|
|
0 Replies | 253 Views |
Apr 25, 2026 - 10:38 PM - by kentto
|
Vì sao thủ lĩnh nông dân Trương Hiến Trung bị gắn mác kẻ “đồ sát Tứ Xuyên”?
New Tab ↗
|
Trong dân gian và nhiều ghi chép hậu thế, Trương Hiến Trung thường bị gắn với hình tượng “ma vương giết người”, đặc biệt qua câu chuyện nổi tiếng về việc “nhập Thục đồ Thục” – tức tiến vào Tứ Xuyên rồi tàn sát dân chúng.
Trương Hiến Trung là một trong những thủ lĩnh khởi nghĩa nông dân nổi bật nhất vào cuối triều Minh, thường được nhắc đến cùng với Lý Tự Thành. Ông là người sáng lập chính quyền Đại Tây và cũng là vị hoàng đế duy nhất của triều đại ngắn ngủi này. Trong dân gian và nhiều ghi chép hậu thế, Trương Hiến Trung thường bị gắn với hình tượng “ma vương giết người”, đặc biệt qua câu chuyện nổi tiếng về việc “nhập Thục đồ Thục” – tức tiến vào Tứ Xuyên rồi tàn sát dân chúng.
Theo nhiều truyền thuyết và dã sử, Trương Hiến Trung đã gây ra vô số tội ác kinh hoàng. Người ta kể rằng quân của ông khi tiến qua đâu đều cướp bóc, giết chóc, hãm hiếp phụ nữ. Nhiều câu chuyện còn mô tả những hình phạt dã man, những hành vi tàn ác đến mức khó tin. Trong ký ức dân gian Tứ Xuyên, hình tượng ấy đã ăn sâu suốt hàng trăm năm, trở thành biểu tượng của sự khủng khiếp và hỗn loạn.

Thủ lĩnh nông dân Trương Hiến Trung. Tại Thành Đô, từ lâu vẫn lưu truyền truyền thuyết về kho báu của Trương Hiến Trung. Đồng thời, những câu chuyện về sự tàn bạo của ông cũng được kể lại từ đời này sang đời khác. Trong nhiều ghi chép, mỗi khi hạ được một thành trì, quân đội của ông thường tiến hành cướp bóc, giết hại và bắt đi nhiều phụ nữ. Những mô tả này phản ánh nỗi kinh hoàng mà chiến tranh mang lại cho người dân trong giai đoạn loạn lạc.
Nhiều người lớn tuổi ở Tứ Xuyên từ lâu đã thuộc nằm lòng những câu chuyện về cuộc tàn sát này. Trong ký ức tập thể của người dân, thời kỳ cuối Minh đầu Thanh là một giai đoạn vô cùng bi thương, với chiến tranh liên miên, dân chúng ly tán, xác người chất đầy đồng nội. Những câu chuyện ấy, dù được truyền lại qua chính sử, dã sử hay truyền khẩu, đều để lại dấu ấn sâu sắc trong tâm thức nhiều thế hệ.
Một trong những biểu tượng nổi tiếng nhất gắn với Trương Hiến Trung là “bia Thất Sát”, trên đó khắc câu:
“Trời sinh vạn vật để nuôi người,
Người chẳng có gì báo đáp trời.
Giết! Giết! Giết! Giết! Giết! Giết! Giết!”
Tuy nhiên, tính xác thực của tấm bia này từ lâu đã gây nhiều tranh cãi trong giới sử học. Nhiều học giả cho rằng đây có thể là sản phẩm tuyên truyền của nhà Thanh hoặc là sự thêm thắt của hậu thế nhằm bôi đen hình ảnh Trương Hiến Trung.
Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, cần đặt Trương Hiến Trung trong bối cảnh lịch sử. Cuối triều Minh, Trung Hoa rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Thiên tai liên tiếp xảy ra, nạn đói lan rộng, triều đình mục nát, tham quan hoành hành, trong khi quân Thanh từ phương Bắc liên tục uy hiếp. Trong hoàn cảnh ấy, các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi.
Trương Hiến Trung và Lý Tự Thành đều xuất thân từ tầng lớp thấp kém trong xã hội. Họ đứng lên chống lại triều đình trong bối cảnh hàng triệu nông dân bị dồn đến bước đường cùng. Tuy nhiên, bản chất của các đội quân khởi nghĩa thời bấy giờ rất phức tạp. Đây không phải là những đội quân chính quy có kỷ luật nghiêm ngặt, mà phần lớn là tập hợp của nông dân, lưu dân, thậm chí cả thổ phỉ. Vì vậy, mỗi nơi họ đi qua thường kéo theo cướp bóc, giết chóc và hỗn loạn.
Năm 1644, Trương Hiến Trung tiến vào Tứ Xuyên. Trong bối cảnh triều Minh sụp đổ, chính quyền địa phương suy yếu, ông nhanh chóng chiếm được Trùng Khánh rồi tiến tới Thành Đô. Sau khi chiếm Thành Đô, ông lập ra chính quyền Đại Tây và xưng đế.
Vậy, Trương Hiến Trung có thực sự “đồ sát Tứ Xuyên” hay không?
Câu trả lời của giới sử học hiện đại là: có những cuộc tàn sát quy mô lớn, nhưng mức độ và trách nhiệm không hoàn toàn như truyền thuyết dân gian mô tả. Dân số Tứ Xuyên suy giảm nghiêm trọng trong giai đoạn này là sự thật. Tuy nhiên, nguyên nhân không chỉ do Trương Hiến Trung. Chiến tranh liên miên, nạn đói, dịch bệnh, các cuộc giao tranh giữa quân Đại Tây, quân Minh còn sót lại, quân Thanh, cùng sự tàn phá của các lực lượng địa phương đều góp phần vào thảm họa ấy.
Sau khi Trương Hiến Trung rút khỏi nhiều khu vực hoặc bị tiêu diệt năm 1647, quân Thanh tiến vào Tứ Xuyên. Những cuộc đàn áp, truy quét sau đó cũng gây tổn thất nặng nề cho dân chúng. Vì thế, việc quy toàn bộ thảm kịch của Tứ Xuyên cho riêng Trương Hiến Trung là một cách nhìn đơn giản hóa lịch sử.
Dẫu vậy, cũng không thể phủ nhận rằng quân đội của Trương Hiến Trung đã gây ra nhiều hành động tàn bạo. Trong thời đại chiến tranh, khi kỷ cương sụp đổ, bạo lực thường trở thành công cụ cai trị và răn đe. Trương Hiến Trung, giống như nhiều lãnh tụ quân sự khác trong lịch sử, vừa là sản phẩm của thời loạn, vừa là một trong những tác nhân làm cho thời loạn thêm khốc liệt.
Nhìn lại, hình tượng Trương Hiến Trung là sự pha trộn giữa sự thật lịch sử, truyền thuyết dân gian và tuyên truyền chính trị. Ông không hoàn toàn là một “ác quỷ” như những câu chuyện ly kỳ mô tả, nhưng cũng không phải là một anh hùng nông dân thuần túy. Ông là hiện thân của một thời đại đầy biến động, nơi ranh giới giữa cách mạng và hủy diệt, giữa giải phóng và tàn sát, thường rất mong manh.
Lịch sử, suy cho cùng, không nên chỉ được nhìn qua lăng kính trắng đen. Câu chuyện về Trương Hiến Trung và Tứ Xuyên là một lời nhắc nhở rằng trong những thời kỳ sụp đổ của trật tự cũ, người chịu tổn thương nặng nề nhất luôn là dân thường.
Vietbf @ Sưu tầm
|
|
0 Replies | 45 Views |
Apr 25, 2026 - 10:43 PM - by pizza
|
Nghệ thuật đàm phán: Tổng thống Trump nói Iran đã gửi cho ông một lời đề nghị TỐT HƠN sau khi hủy chuyến thăm Pakistan
New Tab ↗
|
Nghệ thuật đàm phán: Tổng thống Trump nói Iran đã gửi cho ông một lời đề nghị TỐT HƠN sau khi hủy chuyến thăm Pakistan
Chúng ta đang chứng kiến "Nghệ thuật đàm phán" diễn ra trực tiếp trên trường quốc tế…
Chỉ vài giờ trước khi phái viên dự kiến lên đường tham gia vòng đàm phán thứ hai với Iran tại Pakistan, Tổng thống Trump đã hủy bỏ kế hoạch này.
Mới đây, Tổng thống Trump đã giải thích lý do tại sao ông đưa ra quyết định đó.
Ông nói rằng Iran đã chứng tỏ họ không nghiêm túc khi đưa cho ông một bản báo cáo "đáng lẽ phải tốt hơn".
Vì vậy, để đáp lại, anh ấy đã hủy bỏ hoàn toàn chuyến đi.
Và, điều đáng kinh ngạc hơn nữa là, chưa đầy mười phút sau khi hủy bỏ hội nghị thượng đỉnh với Pakistan, Iran đã đưa ra cho ông ta một thỏa thuận tốt hơn! Thật bất ngờ.
Hãy xem những gì Tổng thống Trump đã nói ở đây:
TRỜI ƠI! Tổng thống Trump vừa tiết lộ rằng sau khi ông hủy chuyến đi Pakistan-Iran, họ đã GỬI CHO ÔNG MỘT THỎA THUẬN TỐT HƠN!
Nghệ thuật đàm phán, trong thực tiễn.
"Họ đưa cho chúng tôi một bài luận lẽ ra phải tốt hơn. Và điều thú vị là, ngay khi tôi hủy bỏ nó, chỉ trong vòng 10 phút, chúng tôi đã nhận được một bài luận mới tốt hơn nhiều!"
"Tôi sẽ làm việc với bất cứ ai điều hành mọi việc... nhưng không có lý do gì để chờ 2 ngày, để mọi người phải di chuyển 16, 17 tiếng... Khi nào họ muốn, họ có thể gọi cho tôi, chúng tôi nắm trong tay mọi thứ!"
"Toàn bộ vấn đề không hề phức tạp: Iran không thể sở hữu vũ khí hạt nhân." @RapidResponse47
🔥 Anh chàng này biết mình đang làm gì.
Hiện tại, chúng tôi chưa có bất kỳ thông tin chi tiết cụ thể nào về đề nghị mà Iran gửi cho Tổng thống Trump sau khi các cuộc đàm phán hòa bình bị hủy bỏ.
Tuy nhiên, Tổng thống Trump lưu ý rằng điều đó vẫn chưa đủ.
Theo CNN :
Ông ta khẳng định đã nhận được một lời đề nghị tốt hơn từ Iran chỉ vài phút sau khi cuộc đàm phán bị hủy bỏ.
“Họ đưa cho chúng tôi một bản báo cáo lẽ ra phải tốt hơn, và điều thú vị là, ngay lập tức, khi tôi hủy bỏ nó, chỉ trong vòng 10 phút, chúng tôi đã nhận được một bản báo cáo mới tốt hơn nhiều,” ông Trump nói với các phóng viên bên ngoài chuyên cơ Air Force One.
Khi phóng viên Kit Maher của CNN hỏi thêm chi tiết về những gì đã được đề nghị, Trump nói rằng "họ đã đề nghị rất nhiều nhưng vẫn chưa đủ."
Mỹ đang nắm giữ mọi lợi thế trong cuộc chiến này.
Dù bằng cách nào đi nữa, Tổng thống Trump cũng sẽ hoàn thành nhiệm vụ. Cho dù đó là một thỏa thuận đạt được sớm hay đơn giản chỉ là xóa sổ Iran thành từng mảnh.
Như thường lệ, chúng tôi sẽ tiếp tục cập nhật cho các bạn những thông tin mới nhất.
|
|
0 Replies | 92 Views |
Apr 25, 2026 - 10:44 PM - by kentto
|
Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel
New Tab ↗
|
Chiến dịch phá hoại do cơ quan tình báo quân đội Israel (AMAN) tổ chức vào tháng 7/1954 đã thất bại thảm hại.
Được xây dựng trên những toan tính thực dụng và chiến thuật phi đạo đức mang tên “hành động dưới màu cờ giả”, chiến dịch này cuối cùng trở nên phản tác dụng đối với chính những kẻ chủ mưu, đồng thời để lại nhiều tranh cãi lớn trong lịch sử ngành tình báo thế giới.
Tháng 7/1954, trong bầu không khí oi nồng của mùa hè ở Cairo và Alexandria, đời sống chính trị cũng sục sôi không kém. Nước Anh đang tiến hành những cuộc đàm phán đầy căng thẳng với chính phủ cách mạng của Tổng thống Ai Cập Gamal Abdel Nasser về việc rút quân khỏi khu vực Kênh đào Suez, nút thắt chiến lược nối liền Đông - Tây.
Đối với nhà nước Israel non trẻ vừa mới giành được độc lập, việc người Anh sắp rút quân chẳng khác nào một thảm họa. Sự hiện diện quân sự của Anh đã kìm hãm những tham vọng của Ai Cập. Thiếu nó, Israel cảm thấy mình trở nên yếu ớt trước một nước láng giềng thù địch. Để ngăn chặn việc Anh rút quân khỏi Ai Cập, AMAN đã xây dựng chiến dịch với mật danh “Susannah”. Một chiến dịch mà sự vô đạo đức và vô liêm sỉ của nó làm rúng động cả những cựu binh dày dạn nhất trong các cuộc chiến tranh ngầm. Mục tiêu của nó là thiêu rụi mối quan hệ giữa Ai Cập và phương Tây. Phương pháp của nó là khủng bố dưới màu cờ giả. Và cái giá của nó là sinh mệnh của các điệp viên bị đem ra làm quân cờ.

Đại tá Binyamin Gibli, Cục trưởng Cục Tình báo Quân đội Israel. Thật nghịch lý, Israel lại lo sợ một thỏa thuận hòa bình diễn ra quá nhanh giữa Ai Cập và Anh quốc. Việc quân đội Anh rút khỏi khu vực Kênh đào Suez đồng nghĩa với việc quân đội Ai Cập sẽ tăng cường sức mạnh tại bán đảo Sinai, ngay sát biên giới của nhà nước Do Thái. Bộ trưởng Quốc phòng Israel Pinhas Lavon và những sĩ quan đầy tham vọng của AMAN, do Đại tá Binyamin Gibli, Cục trưởng Cục Tình báo Quân đội, dẫn đầu, chỉ thấy một giải pháp duy nhất: phá hoại cuộc đàm phán bằng cách dàn dựng hình ảnh một làn sóng bạo lực ngay trong lòng Ai Cập, nhằm chống lại các lợi ích của phương Tây.
Tính toán của họ rất đơn giản: Nếu các cơ sở của Mỹ và Anh bắt đầu bị đốt phá và đánh bom, còn tội lỗi được đổ lên đầu những người theo chủ nghĩa dân tộc Ai Cập, những kẻ Hồi giáo cực đoan hay những người cộng sản, thì London và Washington không chỉ từ chối rút quân mà còn tỏ rõ lập trường cứng rắn đối với Tổng thống Gamal Abdel Nasser. Xung đột sẽ leo thang, đàm phán bị chôn vùi và hiện trạng được duy trì. Mục đích biện minh cho phương tiện. Và những phương tiện được chọn thật sự tàn bạo.
Tháng 7/1954 đã trở thành cơn ác mộng đối với các phái đoàn ngoại giao và văn hóa của phương Tây tại Ai Cập. Một loạt các vụ phóng hỏa và đánh bom, tưởng chừng như không liên quan đến nhau, đã càn quét hai thành phố chính của đất nước:
Ngày 2/7: Thư viện Mỹ tại Alexandria bị phóng hỏa.
Ngày 14/7: Các bưu điện tại Alexandria và Cairo bị gài mìn. Quả bom tại bưu điện Cairo đã không phát nổ.
Ngày 23/7: Hỏa hoạn bùng phát tại thư viện Mỹ ở Cairo và một cơ quan của Anh. Sóng xung kích làm vỡ kính tòa nhà lãnh sự quán Mỹ.
Đêm định mệnh 23/7: Một nhóm hai người gồm Philippe Nathanson và Victor Levy được giao nhiệm vụ đặt các thiết bị gây cháy tại rạp chiếu phim "Rio" và "Metropol" ở Alexandria, nơi đang chiếu phim Mỹ. Mục tiêu là gây ra sự hoảng loạn nhưng không có thương vong (như họ đã được hứa). Thế nhưng, tại rạp "Rio", đã xảy ra một sự cố bi thảm.
Philippe Nathanson đã mắc phải một sai lầm chí mạng khi đang tìm cách đặt quả bom vào túi sau ghế trong khán phòng chật kín khán giả của rạp "Rio". Thiết bị phát nổ ngay trên tay anh ta. Nathanson bị bỏng nặng ở mặt và tay nhưng đã thoát chết. Việc quả bom phát nổ sớm không chỉ kích hoạt quả bom, mà còn cả toàn bộ chiến dịch "Susannah".
Cảnh sát Ai Cập ngay lập tức huy động toàn bộ lực lượng vào cuộc. Dựa trên những dấu vết nóng hổi và lời khai của các nhân chứng, các thành viên của nhóm khủng bố bí mật bắt đầu bị bắt giữ. Philippe Nathanson bị bắt ngay sau vụ nổ tại rạp "Rio". Trước những đòn tra tấn dã man của cảnh sát Ai Cập, anh ta đã đưa ra những lời khai đầu tiên.
Philippe Nathanson tìm cách đánh lạc hướng dư luận bằng việc tuyên bố mình là người cộng sản và nhận được chỉ thị từ Moscow. Lời nói dối này nhằm cứu bản thân cùng đồng đội và làm rối loạn quá trình điều tra. Nhưng, các điều tra viên Ai Cập không hề mắc bẫy. Mạng lưới bắt đầu sụp đổ nhanh chóng, các cuộc bắt giữ diễn ra liên tiếp. Marcelle Ninio, Robert Dassa, Victor Levy, Shmuel Azar và các thành viên khác của nhóm lần lượt sa lưới.
Vì sao chính quyền Ai Cập có thể lần theo dấu vết của nhóm này nhanh như vậy? Trong nhiều thập kỷ, các nguồn tin chính thức của Israel khẳng định giả thuyết về một điệp viên hai mang. Nghi phạm chính là Avraham (John) Dar, liên lạc viên ở Tel Aviv, người trực tiếp điều hành nhóm. Tuy nhiên, những bằng chứng thuyết phục hơn lại chỉ ra một thành viên khác trong mạng lưới: Abraham Seidenberg (mật danh là "Paul Frank").
Theo các nhà sử học và cựu điệp viên Israel, khi nhận thấy nguy hiểm cận kề, Seidenberg đã phản bội đồng đội bằng cách cung cấp cho lực lượng phản gián Ai Cập thông tin về các kế hoạch và thành viên của nhóm. Anh ta là người bị bắt sau cùng và có thái độ lảng tránh đầy nghi vấn trong quá trình thẩm vấn. Sau này, khi được trả tự do trong một cuộc trao đổi tù nhân và trở về Israel, Seidenberg đã bị tòa án quân sự xét xử vì tội phản quốc và bị kết án 12 năm tù. Tình tiết này đã gián tiếp xác nhận giả thuyết về sự phản bội của anh ta.
Tuy nhiên, và đây là điều cực kỳ quan trọng, chính các thành viên của nhóm "Susannah", kể cả Robert Dassa và Marcelle Ninio, đến tận cuối đời, vẫn kiên quyết bác bỏ giả thuyết về sự phản bội trong hàng ngũ của mình. Họ cho rằng thất bại là kết quả của một sự cố ngẫu nhiên định mệnh (vụ nổ tại rạp "Rio"), cộng với sự thiếu chuyên nghiệp của ban lãnh đạo tại Tel Aviv (đã cung cấp những thiết bị không đáng tin cậy) và một kế hoạch tác chiến sơ hở. Đồng thời, trình độ nghiệp vụ cao của cảnh sát Ai Cập sau đó đã đặt dấu chấm hết cho chiến dịch này. "Chúng tôi được huấn luyện để làm gián điệp, được dạy cách thu thập tin tức, chứ không phải để tổ chức các vụ phá hoại" - Robert Dassa sau này nhớ lại.
Họ coi việc kết tội Seidenberg là một nỗ lực của ban lãnh đạo AMAN nhằm tìm kiếm “vật tế thần” và đổ lỗi cho ông về thất bại của chiến dịch và những nỗi thống khổ mà họ phải gánh chịu sau đó. Đối với họ, kẻ phản bội là nhà nước Israel.
Phiên tòa xét xử các thành viên của nhóm bí mật bị bắt giữ (ở Israel nó được gọi là "Vụ án Ai Cập" hoặc "Vụ án Lavon" (theo tên Bộ trưởng Quốc phòng thời bấy giờ), bắt đầu tại Cairo vào tháng 12/1954. Sự kiện này trở thành một vụ bê bối quốc tế. Các cáo buộc rất nghiêm trọng: hoạt động gián điệp, khủng bố và âm mưu chống phá nhà nước. Chính phủ Israel, đứng đầu là Thủ tướng Moshe Sharett, giữ lập trường hoàn toàn phủ nhận.
Trong bài phát biểu trước Knesset (Quốc hội) ngày 12/1/1955, ông Moshe Sharett đã thốt ra những lời trở thành biểu tượng cho sự đạo đức giả của quốc gia:
"Chính phủ Israel bác bỏ hoàn toàn những cáo buộc sai trái của các công tố viên Ai Cập đưa ra, khi gán ghép chính quyền Israel với những hành vi tồi tệ nhất và buộc tội nước này âm mưu chống lại an ninh và tự do trong các quan hệ quốc tế của Ai Cập. Chúng tôi coi những người Do Thái vô tội đang bị chính quyền Ai Cập cáo buộc những tội ác khủng khiếp nhất là nạn nhân của sự thù địch chưa từng có đối với Nhà nước Israel. Chúng tôi kêu gọi tất cả những ai tin tưởng vào hòa bình, ổn định và quan hệ nhân đạo giữa các quốc gia, hãy ngăn chặn sự bất công nghiêm trọng này".
Trong khi đó, những "người Do thái vô tội" được chính quyền Israel cử đi làm nhiệm vụ này đang ngồi trên ghế bị cáo tại Cairo. Hai người trong số họ, Marcelle Ninio và Robert Dassa, bị tuyên án tử hình (sau giảm xuống chung thân). Philippe Nathanson và Victor Levy nhận án 15 năm khổ sai, số còn lại cũng lĩnh những bản án dài hạn. Họ đã phải chịu đựng không chỉ nỗi kinh hoàng của nhà tù Ai Cập, mà còn cả sự thật cay đắng rằng quốc gia mà họ đã mạo hiểm tất cả để phục vụ, lại công khai chối bỏ họ.
Các tù nhân "Vụ án Ai Cập" chỉ được trả tự do sau cuộc Chiến tranh Sáu ngày năm 1967. Nhà nước mà họ phụng sự không chỉ bỏ mặc họ trong cơn hoạn nạn, mà còn công khai gọi họ là những kẻ dối trá và là nạn nhân của bộ máy tuyên truyền Ai Cập.
Sau khi trở về Israel, Robert Dassa, Marcelle Ninio, Philippe Nathanson, Victor Levy và những người khác đã phải trải qua nhiều năm đấu tranh gian khổ với nhà nước Israel. Họ yêu cầu được công nhận chính thức tư cách điệp viên hành động theo mệnh lệnh của quốc gia; được phục hồi danh dự để xóa bỏ vết nhơ "kẻ phản bội"; được bồi thường cho những năm tháng tuổi trẻ đã mất và sức khỏe bị tàn phá; và một lời xin lỗi công khai vì sự chối bỏ và dối trá của nhà nước.
"Susannah" là một chiến dịch không có người chiến thắng, chỉ có nạn nhân và những bài học đắt giá. Đây là câu chuyện về việc nỗi sợ hãi và sự hoài nghi của giới lãnh đạo cấp cao đã dẫn đến cái chết của những người lính bình thường. Khi khủng bố được dùng làm quân bài để thao túng các cường quốc, đã gây ra nỗi hổ thẹn quốc gia và những bi kịch cá nhân.
Chiến dịch này là một lời nhắc nhở: trong thế giới tình báo, cái giá của thất bại không chỉ đo bằng những bí mật bị rò rỉ, mà còn bằng sinh mệnh của những con người bị cuốn vào vòng xoáy với những lời hứa hão huyền và những khẩu hiệu yêu nước sáo rỗng.
Vietbf @ Sưu tầm
|
|
0 Replies | 42 Views |
Apr 25, 2026 - 10:44 PM - by pizza
|
Vì sao đại quân trăm vạn của Tần Thủy Hoàng không cứu nổi nhà Tần?
New Tab ↗
|
Tần Thủy Hoàng dùng chưa đầy vài chục năm để quét sạch lục quốc, thống nhất Trung Hoa. Thế nhưng khi nhà Tần lâm nguy, đại quân từng chinh chiến khắp sáu nước ấy rốt cuộc đã đi đâu?
Nhắc đến nhà Tần, người ta thường không khỏi tiếc nuối. Tần Thủy Hoàng dùng chưa đầy vài chục năm để quét sạch lục quốc, thống nhất Trung Hoa, dựng nên đế quốc phong kiến tập quyền đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa. Thế nhưng triều đại mà ông dày công gây dựng lại tồn tại vô cùng ngắn ngủi. Từ khi thành lập đến lúc diệt vong chỉ vỏn vẹn 15 năm. Một đế quốc từng sở hữu đại quân trăm vạn, uy chấn thiên hạ, vì sao khi lâm vào cảnh sụp đổ lại không có ai đến cứu? Đại quân từng chinh chiến khắp sáu nước ấy rốt cuộc đã đi đâu?

Hạng Vũ trở thành đội quân nổi dậy uy hiếp tới nhà Tần.
Thực ra, vào cuối thời Tần, lực lượng quân sự của đế quốc chủ yếu được chia thành ba tập đoàn lớn. Thứ nhất là quân đoàn Trường Thành, khoảng ba trăm nghìn người, đóng ở phương bắc. Nhiệm vụ của họ là xây dựng, củng cố Trường Thành, đồng thời phòng thủ trước sự quấy nhiễu của Hung Nô và các bộ tộc du mục. Đây là tuyến phòng thủ chiến lược, không thể dễ dàng rút bỏ.
Thứ hai là quân đoàn Nam Việt, lên tới năm trăm nghìn người. Lực lượng này được triển khai ở vùng Lĩnh Nam, vừa để trấn áp các thế lực bản địa mới bị chinh phục, vừa để bảo vệ quá trình khai phá vùng đất phương nam. Khi ấy, Nam Việt vẫn chưa hoàn toàn ổn định; việc duy trì một đội quân hùng hậu tại đây là điều tất yếu.
Cuối cùng là lực lượng do Chương Hàm chỉ huy, khoảng hai trăm nghìn quân. Đây mới là quân chủ lực cơ động, có thể điều động đến các chiến trường trọng yếu trong nội địa. Nói cách khác, khi biến loạn nổ ra, đây gần như là lực lượng tinh nhuệ cuối cùng mà triều đình trung ương có thể trực tiếp sử dụng.
Khi các cuộc khởi nghĩa nông dân bùng phát, triều đình ban đầu hoàn toàn xem thường. Họ cho rằng đó chỉ là những đám nổi loạn lẻ tẻ, không đủ sức uy hiếp nền thống trị của đế quốc. Nhưng ngọn lửa phản kháng nhanh chóng lan rộng. Khi tình hình vượt khỏi tầm kiểm soát, triều đình buộc phải điều động quân chính quy. Chương Hàm được giao thống lĩnh hai trăm nghìn quân tiến ra tiền tuyến.
Ban đầu, ông chiến đấu rất hiệu quả. Quân Tần liên tiếp đánh bại và tiêu diệt nhiều lực lượng khởi nghĩa. Tuy nhiên, Chương Hàm sớm nhận ra rằng chỉ đàn áp từng ổ nổi dậy riêng lẻ thì không thể giải quyết tận gốc vấn đề. Muốn dập tắt phong trào, phải đánh bại thủ lĩnh mạnh nhất. Khi ấy, Hạng Vũ chính là linh hồn của lực lượng chống Tần. Nếu diệt được Hạng Vũ, các cánh quân khác sẽ khó lòng tồn tại.
Nhưng cuộc đối đầu với Hạng Vũ lại không hề thuận lợi. Chương Hàm không thể giành thắng lợi quyết định. Trong lúc chiến sự bế tắc, ông phái sứ giả về Hàm Dương để báo cáo tình hình thực tế, mong triều đình thấu hiểu và hỗ trợ. Thế nhưng, quyền lực khi ấy nằm trọn trong tay Triệu Cao. Tên gian thần này không những từ chối tiếp kiến mà còn sai người giết luôn sứ giả.
Hành động ấy khiến Chương Hàm hiểu rằng mình đã rơi vào đường cùng. Thắng cũng chết, bại cũng chết. Dưới sự thao túng của Triệu Cao, ông không còn đường lui. Cuối cùng, Chương Hàm quyết định đầu hàng Hạng Vũ. Đây là bước ngoặt chí mạng. Sau khi tiếp nhận quân đầu hàng, Hạng Vũ lại ra lệnh chôn sống và giết hại hàng loạt, khiến hai trăm nghìn quân Tần gần như bị xóa sổ hoàn toàn.
Sự mất mát ấy đồng nghĩa với việc triều Tần đánh mất lực lượng cơ động chủ lực cuối cùng. Từ đây, triều đình gần như không còn quân đội đủ sức xoay chuyển cục diện.
Vậy còn hai tập đoàn quân kia thì sao?
Quân đoàn Trường Thành vốn do Mông Điềm chỉ huy. Sau khi Mông Điềm bị ép tự sát, quyền chỉ huy rơi vào tay Vương Ly. Về số phận của đội quân này, sử sách có hai cách lý giải. Một là họ đã được điều về nội địa và hợp nhất với lực lượng của Chương Hàm để đối phó quân khởi nghĩa. Hai là sau khi rút về, do sĩ khí sa sút và thế trận bất lợi, họ lần lượt bị quân nổi dậy đánh tan. Dù theo cách giải thích nào, kết cục vẫn giống nhau: quân đoàn từng trấn giữ phương bắc ấy cuối cùng cũng tan rã.
Còn quân đoàn Nam Việt mới thực sự là lực lượng hùng hậu nhất. Với năm trăm nghìn quân, đây là đội quân đông hơn cả hai tập đoàn còn lại cộng lại. Không chỉ đông, họ còn dày dạn kinh nghiệm chiến đấu và quen thuộc với địa hình phương nam. Nhưng chính vì ở xa trung tâm quyền lực, họ lại trở thành lực lượng nằm ngoài tầm kiểm soát của triều đình khi biến cố xảy ra.
Người nắm giữ quân đoàn này là Triệu Đà. Khi nhà Tần rơi vào hỗn loạn, Triệu Đà nhanh chóng nhận ra cục diện đã không thể cứu vãn. Thay vì đem quân về bắc cứu triều đình, ông lựa chọn con đường thực tế hơn: giữ vững vùng Lĩnh Nam, cắt đứt với Trung Nguyên và xây dựng thế lực riêng.
Ông tự xưng là Nam Việt Vương, lập nên nước Nam Việt độc lập. Từ đó, quân đoàn năm trăm nghìn người này không còn là quân đội của nhà Tần nữa, mà trở thành nền tảng cho một quốc gia mới. Mãi đến thời Hán Vũ Đế, nước Nam Việt do Triệu Đà gây dựng mới bị nhà Hán thôn tính.
Nhìn lại, sự sụp đổ của nhà Tần không phải vì thiếu quân, mà vì lực lượng quân sự bị phân tán khắp đế quốc. Khi khủng hoảng bùng nổ, quân chủ lực của Chương Hàm bị tiêu diệt, quân Trường Thành tan rã, còn quân Nam Việt thì ly khai. Một đế quốc tưởng như hùng mạnh bỗng chốc trở nên trống rỗng.
Tần Thủy Hoàng từng mơ về một triều đại truyền đến muôn đời. Nhưng ông không ngờ rằng, đế quốc do mình dựng nên lại chỉ truyền được đến đời thứ hai. Điều đó cho thấy, sức mạnh quân sự dù lớn đến đâu cũng không thể cứu nổi một triều đại khi nội bộ mục ruỗng, quyền lực bị gian thần thao túng và lòng người đã hoàn toàn rời bỏ.
Vietbf @ Sưu tầm
|
|
0 Replies | 55 Views |
Apr 25, 2026 - 10:46 PM - by pizza
|
Tại sao nhà Minh là triều đại “ô nhục” nhất lịch sử Trung Hoa?
New Tab ↗
|
Nhà Minh là một xã hội mà hoàng tộc sống xa hoa không cần sản xuất; quan lại run rẩy làm việc trong nhục nhã; còn dân thường phải lao lực cả đời mà tiền đồ bị khóa chặt. Đó là một thời đại phân tầng cực độ, lạnh lùng và tăm tối.
Ngày nay, hễ nhắc đến nhà Minh, rất nhiều người lập tức rơi vào một trạng thái tự hào mang tính phản xạ, như thể bản thân triều đại ấy là một thứ “vinh dự dân tộc” bất khả xâm phạm. Chỉ cần ai đó nói một câu rằng nhà Minh không tốt, lập tức sẽ vấp phải những phản ứng dữ dội: nào là “Hán gian”, nào là “tàn dư Mãn Thanh”, nào là “sâu bọ”. Cảm giác như người ta không còn bàn về lịch sử nữa, mà đang chạm vào một tín điều không được phép nghi ngờ.
Nhưng vấn đề nằm chính ở đó: nhà Minh có thật sự tốt đẹp như trong tưởng tượng hay không? Nếu triều đại ấy quả thực vĩ đại đến vậy, vì sao chính người dân đương thời lại đứng lên lật đổ nó? Vì sao người sống trong thời Minh từng oán ghét nó đến tận xương tủy, còn hậu thế lại bỗng dưng đồng loạt hoài niệm? Và vì sao hầu như mọi công trình sử học nghiêm túc đều dành cho thể chế Minh một cái nhìn đầy phê phán?

Chu Nguyên Chương. Muốn trả lời những câu hỏi ấy, chỉ có một cách: gạt bỏ khẩu hiệu và lập trường, trở về với bản thân thể chế và trình độ văn minh, để nhìn lại xem triều đại này thực sự đã làm gì.
Cái gọi là “khôi phục Trung Hoa” thực ra là một trong những huyền thoại lớn nhất suốt 600 năm lịch sử. Rất nhiều người sùng bái Chu Nguyên Chương thường khẳng định ông là vị anh hùng đã “phục hưng Trung Hoa”. Nhưng luận điệu ấy không chịu nổi bất kỳ sự phân tích nghiêm túc nào.
Trước hết, cần làm rõ một khái niệm thường xuyên bị cố tình đánh tráo: “Trung Hoa” chưa bao giờ chỉ là một khái niệm địa lý. Đó là một khái niệm văn minh, được cấu thành bởi thể chế chính trị, truyền thống quản trị, hình thái văn hóa, ngôn ngữ, chữ viết, lễ nghi và phục sức. Nếu chỉ cần chiếm được thiên hạ và để một người Hán ngồi lên ngai vàng là đủ để gọi là “khôi phục Trung Hoa”, thì khái niệm ấy quả thật quá nông cạn.
Xét về lãnh thổ, nhà Minh cũng không hề khôi phục hoàn toàn cương vực thời Hán Đường. Xét về thể chế, tình hình còn ngược lại. Từ thời Hán đến Tống, đặc trưng căn bản của chính trị Trung Hoa là sự cân bằng tương đối giữa hoàng quyền và tướng quyền, giữa hoàng đế và tầng lớp sĩ đại phu. Nhưng việc lớn đầu tiên Chu Nguyên Chương làm sau khi lên ngôi chính là bãi bỏ chế độ tể tướng, tập trung toàn bộ quyền lực vào tay hoàng đế.
Từ đó, Trung Quốc bước hẳn vào thời đại quân chủ chuyên chế tuyệt đối. Quốc gia không còn là một hệ thống quản trị công cộng, mà dần trở thành tài sản chính trị riêng của hoàng tộc. Để duy trì sự phục tùng của bộ máy quan liêu trong một trật tự không còn cơ chế đồng trị, Chu Nguyên Chương chỉ dựa vào một thứ: nỗi sợ hãi.
Ông biến triều đình từ nơi các đại thần có thể ngồi bàn quốc sự thành nơi quần thần phải quỳ nghe thánh chỉ. Ông đặt ra chế độ đình trượng, công khai làm nhục và trừng phạt thể xác quan lại ngay giữa triều đường. Rồi đến Cẩm y vệ, sau này phát triển thành Đông Xưởng, Tây Xưởng và Nội Hành Xưởng, tạo nên hệ thống mật vụ chặt chẽ và đáng sợ bậc nhất trong lịch sử Trung Hoa.
Khi phẩm giá bị tước đoạt một cách có hệ thống, khi đời tư có thể bị lôi ra bất cứ lúc nào để trở thành cái cớ trừng phạt, thì cái gọi là “trung thành” thực chất chỉ là phản xạ của sự sợ hãi. Đó không phải là khôi phục Trung Hoa, mà là bóp méo Trung Hoa.
Trong lĩnh vực văn hóa và tư tưởng, sự thụt lùi ấy còn rõ rệt hơn. Chu Nguyên Chương trực tiếp cắt bỏ trong Mạnh Tử những câu như “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” hay “Quân thị thần như thổ giới, tắc thần thị quân như khấu thù”, tức những tư tưởng có khả năng hạn chế quyền lực quân chủ. Chu Đệ tiếp tục biên soạn Tứ thư đại toàn, Ngũ kinh đại toàn, độc quyền hóa việc giải thích kinh điển.
Khoa cử vốn từng là nơi cho phép thảo luận học thuật dưới thời Đường Tống, đến thời Minh bị biến dạng thành chế độ bát cổ văn. Sĩ tử chỉ được phép “nói thay thánh hiền”, không được trình bày quan điểm riêng, càng không được bàn đến chính trị hay dân sinh. Kết hợp với văn tự ngục và tội danh ngôn luận, toàn bộ xã hội dần rơi vào câm lặng. Sức sáng tạo tư tưởng và văn học cũng theo đó mà suy kiệt.
Về kinh tế, nhà Minh đi ngược hẳn xu thế phát triển của thời Tống Nguyên. Khi ấy, Trung Quốc đã là một xã hội thương mại hóa cao, với ngoại thương, đô thị và thủ công nghiệp phát triển mạnh. Thế nhưng Chu Nguyên Chương lại lấy “trọng nông ức thương” làm quốc sách, đồng thời thi hành hải cấm, cắt đứt giao thương biển. Chế độ hộ tịch còn trói buộc thợ thủ công thành các hộ nghề cha truyền con nối, tước đoạt khả năng tham gia thị trường và hưởng lợi từ thành quả lao động.
Nói cách khác, Chu Nguyên Chương không hề “khôi phục Trung Hoa”. Ông đã kéo bánh xe lịch sử lùi lại đúng vào thời điểm nhân loại đang bước vào một kỷ nguyên mới của phân công, giao lưu và kiểm soát quyền lực.
Người ta thường nói: Chu Nguyên Chương xuất thân nông dân nên đặc biệt tốt với nông dân. Nhưng nếu đem câu ấy nói với một người nông dân thời Minh, rất có thể bạn sẽ bị họ liều mạng phản bác.
Thực tế, Chu Nguyên Chương là một trong những vị hoàng đế kiểm soát nông dân chặt chẽ nhất, bóc lột nặng nề nhất trong lịch sử Trung Quốc. Ông rất giỏi diễn vai một vị vua gần dân. Những câu như “Trẫm vốn là nông phu, hiểu rõ nỗi gian nan của nghề nông” hay “Trẫm vốn là nông phu, thấu hiểu nỗi khổ dân gian” quả thật dễ làm người nghe xúc động. Nhưng vấn đề là, ông chưa bao giờ có ý định chịu trách nhiệm thực sự cho những lời ấy.
Ông hiểu rõ sức mạnh của việc xây dựng hình tượng. Xuất thân bần hàn trở thành công cụ tạo dựng tính chính danh về đạo đức. Còn lời hứa có được thực hiện hay không, lại là chuyện khác.
Công cụ quan trọng nhất để kiểm soát dân chúng là hệ thống Hoàng sách và Ngư lân đồ sách. Dưới chế độ này, toàn bộ dân cư bị phân loại chặt chẽ thành quân hộ, dân hộ, tượng hộ… và gần như bị cố định theo hình thức cha truyền con nối. Thợ rèn đời đời rèn sắt, người nuôi ngựa đời đời nuôi ngựa, thợ dệt đời đời dệt vải.
Đó không chỉ là phân công lao động, mà là một dạng nô dịch được thể chế hóa. Cá nhân không còn là thành viên của xã hội, mà trở thành một linh kiện trong cỗ máy nhà nước. Muốn thay đổi số phận, gần như chỉ có cách trốn chạy khỏi hộ tịch, đánh đổi bằng nguy cơ tan cửa nát nhà.
Cái gọi là “thuế nhẹ” của nhà Minh cũng chỉ là một huyền thoại. Mức thuế chính thức quả có vẻ thấp, nhưng gánh nặng thực tế lại vô cùng lớn. Ngoài thuế ruộng, nông dân còn phải gánh đủ loại khoản phụ thu ngoài pháp định, phải nuôi bộ máy quan lại, phải cung cấp lộc mễ cho tông thất ngày càng phình to, và phải chịu vô số lao dịch không công.
Lương quan lại bị cố tình duy trì ở mức thấp, tạo ra môi trường mà thanh liêm gần như bất khả thi. Hệ quả là tham nhũng trở thành một phần cấu trúc của bộ máy. Cuối cùng, mọi chi phí đều được chuyển xuống đầu người nông dân.
Bởi vậy, cái gọi là “nhân chính” nhanh chóng biến thành một hệ thống áp bức tổng hợp. Đến trung và hậu kỳ nhà Minh, lưu dân đầy rẫy, khởi nghĩa liên miên. Sự oán hận tích tụ lâu ngày cuối cùng bùng nổ thành làn sóng thanh toán tông thất khi triều đại sụp đổ.
Nhà Minh là một xã hội mà hoàng tộc sống xa hoa không cần sản xuất; quan lại run rẩy làm việc trong nhục nhã; còn dân thường phải lao lực cả đời mà tiền đồ bị khóa chặt. Đó là một thời đại phân tầng cực độ, lạnh lùng và tăm tối.
Ảnh hưởng sâu xa hơn của nhà Minh còn nằm ở việc tái cấu trúc tâm lý và văn hóa xã hội. Trước thời Minh, người Hán chưa bao giờ là một dân tộc khép kín hay thiếu sức sống. Từ Hán, Đường đến Tống, ca múa, yến tiệc, thể thao và các hình thức giải trí công cộng đều vô cùng phát triển. Nhưng từ thời Minh, những truyền thống mang tính tập thể, cởi mở và giàu tính biểu đạt ấy dần bị đẩy ra khỏi đời sống công cộng.
Thay vào đó là những hoạt động tĩnh tại, riêng tư và phi thân thể như thưởng hoa, thư pháp, hội họa, thanh đàm, thiền định. Không phải người Hán tự nhiên thay đổi bản tính, mà bởi môi trường chính trị chuyên chế khiến mọi biểu hiện công khai của cảm xúc, cơ thể và sự tụ tập đều bị xem là yếu tố bất ổn.
Trong một xã hội như vậy, an toàn đến từ sự kín đáo, kiềm chế và phục tùng; còn rủi ro đến từ sự bộc lộ, phô trương và tự do biểu đạt. Dần dần, thận trọng thay thế phóng khoáng, thuận phục lấn át sáng tạo, tự bảo toàn trở thành đức hạnh hàng đầu.
Nhà Minh còn đưa đạo đức vào khuôn khổ quản trị nhà nước. Những giá trị vốn thuộc về gia đình và cộng đồng nay được chính quyền lượng hóa, khen thưởng và biến thành vốn chính trị. Khi đạo đức trở thành đối tượng biểu dương công khai, nó không còn là sự tự giác nội tâm mà dễ biến thành màn trình diễn bên ngoài. Kết quả tất yếu là đạo đức bị công cụ hóa, rồi dần dần trở nên giả tạo.
Vậy tại sao ngày nay vẫn có nhiều người hoài niệm nhà Minh? Bởi thứ họ hoài niệm không phải là lịch sử, mà là khẩu hiệu. Những câu như “không hòa thân, không bồi khoản, không cắt đất, không triều cống” hay “thiên tử giữ cửa nước, quân vương chết vì xã tắc” nghe rất hào hùng, nhưng hoàn toàn không nói gì về đời sống của dân chúng, về chi phí thể chế hay chất lượng xã hội.
Đó là những mỹ từ đứng từ góc nhìn của đế vương và văn nhân phục vụ triều đình. Chúng ca ngợi ý chí quốc gia, chứ không quan tâm đến số phận con người. Một quốc gia trưởng thành không cần hoàng đế phải thân chinh trấn thủ biên cương. Việc lấy thất bại cơ cấu của hệ thống quốc phòng để tô vẽ thành biểu tượng đạo đức chưa bao giờ là điều đáng tự hào.
Nhiều người cũng không thực sự so sánh nhà Minh với các triều đại thành công hơn, mà chỉ dùng sự mục nát của cuối Thanh để làm nền tôn vinh nhà Minh. Đó là một kiểu ngụy biện: chọn một đối tượng tồi tệ hơn để tạo ra cảm giác ưu việt tương đối.
Nhưng giá trị của một triều đại không nằm ở chỗ nó ít tệ hơn thời kỳ sụp đổ của triều đại khác, mà ở chỗ nó có mang lại một trật tự văn minh cao hơn cho xã hội hay không. Một nền văn minh tiến bộ phải bảo vệ cá nhân, hạn chế quyền lực, khuyến khích sáng tạo và dung nạp đa dạng. Chính ở những phương diện ấy, nhà Minh lại thể hiện sự thoái lui rõ rệt.
Bởi vậy, nhiều người ngày nay yêu mến nhà Minh không phải vì họ hiểu nhà Minh, mà vì họ chưa từng thực sự bước vào bản chất của lịch sử. Họ nhìn thấy ánh đèn sân khấu của những khẩu hiệu hào hùng, nhưng cố tình lảng tránh cái giá thể chế chất đống phía sau hậu trường. Họ say mê vẻ ngoài của đế quốc, mà không mấy bận tâm đến chất lượng sống của người bình thường.
Và một xã hội, khi đã quen dùng nhiệt huyết thay cho nhận thức, dùng khẩu hiệu thay cho lịch sử, thì khoảng cách từ việc ngợi ca quá khứ đến việc lặp lại chính những sai lầm của quá khứ, thực ra không hề xa.
Vietbf @ Sưu tầm
|
|
0 Replies | 172 Views |
Apr 25, 2026 - 10:47 PM - by pizza
|
Vì sao "phao cứu sinh" 100 tỷ USD của Iran bị đóng băng gần 50 năm, hiện đang mắc kẹt ở những nước nào?
New Tab ↗
|
Trong nhiều năm qua, số tài sản khoảng 100 tỷ USD của Iran bị “đóng băng" do lệnh trừng phạt của Mỹ đã trở thành một trong những vấn đề kinh tế – chính trị phức tạp nhất thế giới.
Câu chuyện về tài sản bị đóng băng của Iran bắt đầu từ năm 1979, khi cuộc Cách mạng Hồi giáo nổ ra, lật đổ Quốc vương Mohammad Reza Pahlavi và thiết lập một trật tự chính trị hoàn toàn mới tại Tehran. Biến cố này nhanh chóng đẩy quan hệ giữa Iran và Mỹ vào trạng thái đối đầu gay gắt.
Đỉnh điểm của căng thẳng là cuộc khủng hoảng con tin tại Đại sứ quán Mỹ ở Tehran. Các sinh viên Iran đã tấn công cơ quan ngoại giao này, bắt giữ 66 công dân Mỹ. Sau một thời gian, một số người được thả, nhưng 52 con tin còn lại bị giam giữ suốt 444 ngày.
Sự kiện này đã khiến Mỹ lần đầu tiên áp đặt các biện pháp trừng phạt mạnh tay đối với Iran, bao gồm việc đóng băng tài sản với lý do đe dọa an ninh quốc gia. Đây được xem là bước khởi đầu của chuỗi biện pháp hạn chế tài chính kéo dài hàng thập kỷ sau đó.
Đến năm 1981, thông qua trung gian là Algeria, hai bên ký kết Thỏa thuận Algiers. Một phần tài sản của Iran được giải phóng, đổi lại việc các con tin được trả tự do. Tuy nhiên, thỏa thuận này không thể khôi phục quan hệ song phương, và các lệnh trừng phạt tiếp tục được duy trì dưới nhiều hình thức.

Trong các thập kỷ tiếp theo, những lo ngại của phương Tây về chương trình hạt nhân và tên lửa của Iran khiến các biện pháp trừng phạt không những không được dỡ bỏ mà còn mở rộng. Hệ quả là Iran ngày càng bị hạn chế tiếp cận hệ thống tài chính quốc tế, khiến nguồn thu từ xuất khẩu, đặc biệt là dầu mỏ, khó có thể luân chuyển về trong nước.
Một bước ngoặt quan trọng xuất hiện vào năm 2015, khi Iran ký Kế hoạch Hành động Toàn diện chung (JCPOA) với nhóm P5+1. Theo thỏa thuận này, Iran chấp nhận hạn chế chương trình hạt nhân để đổi lấy việc nới lỏng trừng phạt. Khi đó, Tehran đã có thể tiếp cận lại một phần đáng kể tài sản ở nước ngoài, mở ra kỳ vọng phục hồi kinh tế.
Tuy nhiên, tiến trình này nhanh chóng bị đảo ngược. Năm 2018, chính quyền Tổng thống Donald Trump rút Mỹ khỏi JCPOA và tái áp đặt các lệnh trừng phạt nghiêm ngặt. Các dòng tiền của Iran, đặc biệt là doanh thu từ xuất khẩu dầu, một lần nữa bị “đóng băng” trong hệ thống tài chính quốc tế.
Đến năm 2023, Mỹ và Iran đạt được thỏa thuận trao đổi tù nhân, trong đó Tehran thả 5 công dân Mỹ gốc Iran để đổi lấy việc Mỹ cho phép tiếp cận khoảng 6 tỷ USD doanh thu dầu mỏ bị đóng băng tại Hàn Quốc. Số tiền này sau đó được chuyển sang Qatar để giám sát.
Tuy nhiên, diễn biến địa chính trị tiếp tục khiến tình hình đảo chiều. Sau các căng thẳng mới tại Trung Đông, Mỹ đã áp đặt thêm các lệnh trừng phạt vào năm 2024, khiến Iran lại mất quyền tiếp cận khoản tiền này dù nó đã được chuyển đến Doha.
Đến năm 2026, tài sản tiếp tục là vấn đề trung tâm trong đàm phán khi Mỹ cân nhắc giải phóng thêm khoảng 20 tỷ USD để đổi lấy việc Iran hạn chế làm giàu uranium.
Song song với Mỹ, Liên minh châu Âu cũng áp dụng các biện pháp đóng băng tài sản đối với Iran, với các lý do liên quan đến nhân quyền, chương trình hạt nhân và các cáo buộc hỗ trợ hoạt động quân sự.
Hơn 100 tỷ USD “mắc kẹt” và phân tán ở nhiều quốc gia
Mặc dù không có con số chính thức tuyệt đối, nhiều báo cáo và chuyên gia ước tính tổng tài sản bị đóng băng của Iran ở nước ngoài lên tới hơn 100 tỷ USD. Đây là một khoản tiền khổng lồ, tương đương khoảng ba lần doanh thu hàng năm từ xuất khẩu hydrocarbon của nước này.
Tuy nhiên, không phải toàn bộ số tiền này đều có thể được giải phóng ngay cả khi các lệnh trừng phạt được dỡ bỏ. Theo các đánh giá trước đây của giới chức Mỹ, một phần đáng kể tài sản đã được Iran cam kết cho các khoản đầu tư hoặc nghĩa vụ tài chính từ trước, nên khả năng tiếp cận thực tế chỉ ở mức khoảng một nửa.
Số tài sản bị đóng băng này không nằm tập trung ở một nơi mà phân tán tại nhiều quốc gia. Theo các nguồn tin, Trung Quốc đang nắm giữ ít nhất 20 tỷ USD, Ấn Độ khoảng 7 tỷ USD, Iraq khoảng 6 tỷ USD, Nhật Bản khoảng 1,5 tỷ USD.
Ngoài ra, Mỹ trực tiếp nắm giữ khoảng 2 tỷ USD tài sản của Iran, trong khi một số quốc gia châu Âu như Luxembourg cũng giữ khoảng 1,6 tỷ USD. Qatar hiện đang nắm giữ khoảng 6 tỷ USD – khoản tiền từng được chuyển từ Hàn Quốc sang nhưng sau đó lại bị phong tỏa.
Nguồn gốc của phần lớn số tiền này đến từ hoạt động xuất khẩu dầu mỏ của Iran. Dù bị trừng phạt, Iran vẫn được phép bán một lượng dầu hạn chế cho một số quốc gia nhất định. Tuy nhiên, doanh thu từ các giao dịch này thường bị giữ lại trong các ngân hàng tại nước mua dầu, thay vì được chuyển về Tehran.
Nguyên nhân là do các lệnh trừng phạt tài chính của Mỹ cấm việc chuyển tiền trực tiếp. Điều này khiến dòng tiền của Iran tồn tại dưới dạng “tài sản bị khóa” – vẫn thuộc quyền sở hữu nhưng không thể sử dụng.
Vì sao việc giải phóng tài sản lại mang ý nghĩa sống còn với Iran?
Đối với Iran, số tài sản bị đóng băng không chỉ là con số trên giấy tờ, mà còn là nguồn lực tài chính, "phao cứu sinh" có thể tạo ra tác động tức thì đối với nền kinh tế trong nước.
Sau nhiều năm chịu trừng phạt, nền kinh tế Iran rơi vào tình trạng khó khăn kéo dài. Xuất khẩu dầu bị hạn chế, đầu tư nước ngoài sụt giảm, trong khi cơ sở hạ tầng và công nghiệp không được nâng cấp đúng mức. Đồng nội tệ mất giá mạnh, lạm phát tăng cao đã gây ra nhiều bất ổn xã hội.
Trong bối cảnh đó, việc giải phóng tài sản bị đóng băng có thể mang lại nguồn ngoại tệ quan trọng, giúp Iran ổn định tỷ giá, kiểm soát lạm phát và cải thiện đời sống người dân. Đây cũng là nguồn vốn để đầu tư vào các lĩnh vực thiết yếu như năng lượng, nước sạch và hệ thống điện.
Các chuyên gia cho rằng nhiều dự án tại Iran đang bị đình trệ do thiếu vốn, từ công nghiệp ô tô đến khai thác dầu khí. Nếu có thể tiếp cận nguồn tài sản bị đóng băng, Tehran có thể nhanh chóng tái khởi động các dự án này, đồng thời mua sắm thiết bị và công nghệ cần thiết từ nước ngoài.
Ngoài ra, ngành hàng không của Iran cũng đang cần được hiện đại hóa khi đội bay đã cũ và thiếu phụ tùng thay thế. Nguồn tiền này có thể giúp nước này đầu tư vào việc nâng cấp đội bay và đảm bảo an toàn vận hành.
Dù vậy, vẫn tồn tại những lo ngại từ phía phương Tây rằng Iran có thể sử dụng nguồn tiền này để tài trợ cho các lực lượng đồng minh trong khu vực. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia nhận định rằng trong bối cảnh hiện tại, ưu tiên lớn nhất của Iran vẫn là ổn định kinh tế trong nước và tạo việc làm.
Ở góc độ ngoại giao, việc giải tỏa tài sản bị đóng băng còn mang ý nghĩa như một tín hiệu chính trị. Nếu Mỹ hoặc các nước phương Tây nới lỏng kiểm soát, điều đó có thể mở ra cơ hội đối thoại và hợp tác, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của các đối tác quốc tế khác vào nền kinh tế Iran.
Ngược lại, việc tiếp tục duy trì phong tỏa tài sản sẽ khiến áp lực kinh tế đối với Tehran ngày càng lớn, đồng thời làm gia tăng căng thẳng trong khu vực.
Tài sản bị đóng băng, xét về bản chất, là những nguồn lực tài chính bị hạn chế quyền sử dụng bởi các quyết định chính trị hoặc pháp lý. Trong trường hợp của Iran, đây là kết quả của nhiều thập kỷ xung đột, nghi kỵ và cạnh tranh địa chính trị.
Cho đến nay, câu hỏi về việc liệu Iran có thể tiếp cận lại toàn bộ “phao cứu sinh” hơn 100 tỷ USD hay không vẫn chưa có lời giải rõ ràng. Nhưng chắc chắn, số tiền này sẽ tiếp tục đóng vai trò then chốt trong mọi tính toán kinh tế và ngoại giao của Tehran trong thời gian tới.
Vietbf @ Sưu tầm
|
|
0 Replies | 87 Views |
Apr 25, 2026 - 10:48 PM - by pizza
|
Điện Kremlin xác nhận rằng Putin đang cân nhắc việc đến Miami dự Hội nghị thượng đỉnh G20 vào tháng 12.
New Tab ↗
|
Điện Kremlin xác nhận rằng Putin đang cân nhắc việc đến Miami dự Hội nghị thượng đỉnh G20 vào tháng 12.
Hội nghị thượng đỉnh G20 tiếp theo có thể sẽ mang ý nghĩa lớn hơn.
Mặc dù các cuộc chiến ở Ukraine và Iran vẫn chưa được giải quyết, nhưng bối cảnh địa chính trị vẫn còn chỗ cho những diễn biến khác.
Trong khi thế giới đang chìm trong chiến tranh, công tác xây dựng lại quan hệ ngoại giao và thương mại giữa hai siêu cường hạt nhân: Hoa Kỳ và Nga vẫn đang tiếp diễn.
Hôm qua (24), Điện Kremlin thông báo rằng Tổng thống Nga Vladimir Putin có thể sẽ tham dự hội nghị thượng đỉnh G20 tại Miami vào tháng 12.
Điều này diễn ra sau khi Tổng thống Mỹ Donald J. Trump công khai tuyên bố rằng sự hiện diện của Putin sẽ rất hữu ích, và cũng cho rằng "việc loại bỏ Nga khỏi G8 là một sai lầm".
Hãng Reuters đưa tin:
“Hoa Kỳ đã mời Nga tham dự cuộc họp thường niên của Nhóm 20 nước (G20) do Washington tổ chức năm nay tại Miami, và Moscow đã chấp nhận lời mời”, một quan chức Mỹ am hiểu vấn đề cho biết hôm thứ Sáu.
Ông Putin đã không tham dự hội nghị thượng đỉnh G20 kể từ năm 2019 do đại dịch COVID và sau đó là cuộc xâm lược Ukraine năm 2022 của Nga, sự kiện đã gây ra cuộc khủng hoảng lớn nhất trong quan hệ giữa Moscow và phương Tây kể từ thời kỳ đỉnh điểm của Chiến tranh Lạnh.
“‘Tổng thống Putin có thể đến Miami với tư cách là thành viên của G20, hoặc ông ấy có thể không đến, hoặc một đại diện khác của Nga có thể đến’, người phát ngôn Điện Kremlin Dmitry Peskov nói với phóng viên truyền hình nhà nước Pavel Zarubin.”
Ông Peskov cho biết, ngay cả khi Putin quyết định không tham dự, Nga vẫn sẽ được "đại diện một cách thích đáng" tại hội nghị thượng đỉnh.
“Năm ngoái, Điện Kremlin cho biết họ đồng ý với Trump rằng việc loại Nga khỏi Nhóm G8 năm 2014 là một sai lầm, nhưng Nhóm G7 không còn quan trọng đối với Nga và trông 'khá vô dụng'.”
|
|
0 Replies | 79 Views |
Apr 25, 2026 - 10:48 PM - by kentto
|
Phần Lan tiến đến thỏa thuận với Mỹ về sử dụng chung vũ khí hạt nhân trên máy bay F-35, Nga đe dọa trả đũa
New Tab ↗
|
Theo tạp chí Military Watch , Phần Lan được cho là đang tiến gần hơn đến một thỏa thuận với Mỹ về việc sử dụng chung vũ khí hạt nhân được trang bị trên các máy bay chiến đấu F-35 thế hệ thứ năm gần biên giới Nga . Nước này dự kiến sẽ nhận được tổng cộng 64 máy bay loại này.

Máy bay F-35A của Mỹ mang 2 quả bom B61-12. Ảnh: Pravda. F-35 với vai trò là nền tảng vận chuyển vũ khí hạt nhân.
F-35 được xem là nền tảng tối ưu để vận chuyển vũ khí hạt nhân. Khoang chứa vũ khí bên trong của nó có khả năng mang hai quả bom hạt nhân B61, trong khi các tính năng tàng hình tiên tiến và khả năng tác chiến điện tử giúp tăng đáng kể khả năng sống sót trong các nhiệm vụ tấn công tầm xa.
Theo đánh giá của ấn phẩm này, một quả bom hạt nhân B61-13 duy nhất có thể gây ra thương vong thảm khốc nếu được sử dụng chống lại một thành phố lớn, cho thấy tiềm năng hủy diệt liên quan đến các hệ thống như vậy.
Báo cáo cũng lưu ý rằng máy bay chiến đấu Su-57 thế hệ thứ năm của Nga có khả năng mang vũ khí hạt nhân, mặc dù việc triển khai chúng ở các khu vực giáp biên giới Phần Lan vẫn chưa được thực hiện đầy đủ.
Phần Lan xem xét những thay đổi pháp lý
Trước đó, Bộ Quốc phòng Phần Lan đã công bố đề xuất cho phép nhập khẩu, vận chuyển và lưu trữ vũ khí hạt nhân như một phần của việc tăng cường năng lực phòng thủ quốc gia và tập thể.
Chính phủ đề xuất loại bỏ các rào cản pháp lý ngăn cản việc nhập khẩu, vận chuyển hoặc lưu trữ các thiết bị hạt nhân tại Phần Lan nhằm đảm bảo quốc phòng, an ninh tập thể của NATO và hợp tác quốc phòng.
Bộ trưởng Quốc phòng Phần Lan Antti Häkkänen tuyên bố rằng sáng kiến này nhằm mục đích tăng cường an ninh quốc gia trong môi trường tác chiến ngày càng khó lường và nâng cao ngưỡng sử dụng vũ lực chống lại Phần Lan và NATO.
Bộ trưởng Häkkänen lần đầu tiên đề xuất sáng kiến này vào đầu tháng trước. Tuần trước, chính quyền Helsinki đã công bố một báo cáo trong đó họ khẳng định rằng nước cộng hòa này sẽ không triển khai vũ khí hủy diệt hàng loạt trong thời bình và sẽ không trở thành một cường quốc hạt nhân.
Phản hồi của Điện Kremlin
Bình luận về những diễn biến này, Người phát ngôn Điện Kremlin Dmitry Peskov gọi đó là dấu hiệu rõ ràng của sự leo thang đối đầu.
"Đây là sự đối đầu. Nó cần được hiểu chính xác như vậy - một biểu hiện tập trung của sự đối đầu" - ông Peskov tuyên bố.
Trước đó ông Peskov cảnh báo rằng việc triển khai các loại vũ khí như vậy sẽ gây ra mối đe dọa cho Nga và Moscow sẽ có các biện pháp trả đũa.
Đại sứ quán Nga tại Helsinki cho biết nước này sẽ tính đến "ngay cả khả năng lý thuyết" về việc vũ khí hạt nhân xuất hiện trên lãnh thổ Phần Lan trong kế hoạch quân sự của mình.
"Không cần phải là chuyên gia quân sự mới hiểu rằng ngay cả khả năng lý thuyết về việc vũ khí hạt nhân xuất hiện trên lãnh thổ Phần Lan cũng sẽ được tính đến trong kế hoạch quân sự của Nga. Chúng tôi tin tưởng rằng Helsinki nhận thức được điều này," phái đoàn ngoại giao nhấn mạnh.
Đại sứ quán cho biết thêm rằng các sửa đổi do chính quyền Phần Lan đề xuất sẽ loại bỏ mọi rào cản đối với việc nhập khẩu vũ khí hạt nhân vào nước này bất cứ lúc nào.
Xu hướng tương tự ở Châu ÂU
Các chuyên gia lưu ý rằng những xu hướng tương tự có thể được quan sát thấy ở những nơi khác tại châu Âu. Nhà phân tích Alexander Kamkin trước đây đã gợi ý rằng Ba Lan, quốc gia đang lên kế hoạch tập trận không quân chung với Pháp bao gồm các cuộc tấn công mô phỏng vào các mục tiêu của Nga, cũng đang tìm cách tiếp cận năng lực hạt nhân.
Gần đây, các nước châu Âu đã tăng cường tuyên bố về vấn đề này. Đầu tháng 3, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron tuyên bố Paris đang bước vào giai đoạn "răn đe hạt nhân tiên tiến". Theo học thuyết mới, nước này sẽ tăng số lượng đầu đạn hạt nhân, và các đồng minh sẽ có thể tham gia các cuộc tập trận chung. Theo các nguồn tin, các nước này bao gồm Anh, Đức, Ba Lan, Hà Lan, Bỉ , Hy Lạp, Thụy Điển và Đan Mạch.
Vietbf @ Sưu tầm
|
|
0 Replies | 83 Views |
Apr 25, 2026 - 10:49 PM - by pizza
|
Tướng Iran tung cảnh báo ớn lạnh tới Mỹ, Israel về "đợt phóng tên lửa lớn nhất trong lịch sử"
New Tab ↗
|
Người phát ngôn lực lượng vũ trang Iran, Chuẩn tướng Ibrahim Zolfaghari, tuyên bố nước này đã chuẩn bị cho một đợt phóng tên lửa mà ông gọi là “lớn nhất trong lịch sử”, nhằm vào các vùng lãnh thổ đối địch và một số quốc gia Ả Rập đồng minh của Mỹ, Saba đưa tin.

Người phát ngôn lực lượng vũ trang Iran, Chuẩn tướng Ibrahim Zolfaghari. Ảnh Saba Ông Zolfaghari cảnh báo vào hôm 24/4 rằng, Iran sẽ triển khai “loạt tấn công tên lửa lớn nhất từ trước đến nay” nếu phát hiện bất kỳ mối đe dọa nào sắp xảy ra, đồng thời nhấn mạnh Tehran đang ở trạng thái sẵn sàng đáp trả ngay lập tức trước mọi dấu hiệu tấn công.
Tuyên bố cứng rắn này được đưa ra trong bối cảnh căng thẳng khu vực leo thang sau một giai đoạn xung đột kéo dài khoảng 40 ngày, khi Iran cho biết họ đã đáp trả bằng chiến dịch quân sự mang tên “Lời hứa chân thật 4”, nhắm vào các mục tiêu của Israel và Mỹ trong khu vực.
Không chỉ dừng ở lời cảnh báo, năng lực thực tế của Iran cũng đang khiến giới quan sát lo ngại. Theo các dữ liệu quân sự, nước này sở hữu một trong những kho tên lửa lớn nhất Trung Đông với hơn 3.000 tên lửa các loại, được thiết kế như công cụ răn đe và đáp trả nhanh trước các đối thủ như Mỹ, Israel hay Ả Rập Saudi.
Trong các diễn biến gần đây, Iran đã nhiều lần chứng minh khả năng triển khai hỏa lực quy mô lớn. Chỉ riêng đầu năm 2026, Tehran đã phóng hàng trăm tên lửa và hàng nghìn máy bay không người lái vào các mục tiêu ở Israel và khu vực Vùng Vịnh, cho thấy mức độ sẵn sàng và cường độ tác chiến cao chưa từng có.
Đáng chú ý, bất chấp các đòn không kích quy mô lớn từ Mỹ và Israel nhằm làm suy yếu năng lực quân sự, Iran vẫn nhanh chóng khôi phục và thậm chí tăng tốc tái trang bị hệ thống phóng tên lửa và UAV, cho thấy khả năng phục hồi đáng kể của bộ máy quân sự nước này.
Giới phân tích nhận định, chiến lược của Iran dựa trên học thuyết “răn đe bằng trả đũa”, trong đó tên lửa đóng vai trò trung tâm để bù đắp cho hạn chế về không quân do các lệnh trừng phạt kéo dài nhiều thập kỷ.
Nếu tuyên bố của Tehran trở thành hiện thực, một “cơn mưa tên lửa” quy mô chưa từng có có thể làm rung chuyển toàn bộ Trung Đông, đẩy khu vực vào vòng xoáy leo thang mới với nguy cơ lan rộng thành xung đột khu vực toàn diện.
Vietbf @ Sưu tầm
|
|
0 Replies | 106 Views |
Apr 25, 2026 - 10:50 PM - by pizza
|
|