» Super News |
Bị Mỹ lơ là, một đồng minh lâu năm của Washington đang 'cầu cứu' châu Á
New Tab ↗
|
Thủ tướng Anthony Albanese những ngày qua liên tục điện đàm, công du và thúc đẩy tiếp xúc cấp cao với các đối tác trong khu vực để giữ cho các dòng chảy diesel và xăng tiếp tục hướng về Úc, trong bối cảnh nguồn cung toàn cầu bị xáo trộn nghiêm trọng. Ông đang có mặt tại Singapore để hội đàm với Thủ tướng Lawrence Wong và dự kiến sẽ tiếp tục tới Brunei trong tuần tới.
Sự gấp gáp này không phải ngẫu nhiên. Singapore hiện giữ vị trí cực kỳ quan trọng đối với an ninh năng lượng của Úc. Theo các báo cáo gần đây, nước này cung cấp hơn một nửa lượng xăng nhập khẩu của Úc, đồng thời là một nguồn cung diesel và nhiên liệu hàng không lớn.
Ở chiều ngược lại, Úc lại là nhà cung cấp LNG đáng kể cho Singapore. Nói cách khác, quan hệ giữa hai bên là một chuỗi phụ thuộc lẫn nhau về năng lượng và việc này đang trở thành “đòn bẩy” ngoại giao của Canberra.
Không chỉ có Singapore, chính quyền của ông Albanese cũng đang đồng thời “gia cố” các đầu mối với Nhật Bản, Indonesia, Brunei và cả Trung Quốc. Bộ trưởng Quốc phòng Richard Marles vừa có chuyến đi gấp tới Tokyo để bàn về hệ lụy của xung đột Trung Đông cũng như các thách thức an ninh tại châu Á - Thái Bình Dương.
Trong khi đó, các nhà ngoại giao Úc tại Indonesia được cho là đã góp phần thuyết phục Jakarta bảo đảm tiếp tục cung cấp phân bón và urê, những mặt hàng rất quan trọng đối với nông dân Úc trong mùa gieo trồng vụ đông.
Điều đáng chú ý là làn sóng ngoại giao dồn dập này không chỉ nhằm cứu nguy cho nguồn cung nhiên liệu trước mắt. Những bước đi này còn cho thấy Canberra đang đẩy mạnh một định hướng đã được theo đuổi suốt vài năm qua là tái tập trung vào khu vực lân cận, vừa để hạn chế ảnh hưởng của Trung Quốc, vừa để tăng trọng lượng chiến lược của chính mình.
Trong bối cảnh chính quyền Tổng thống Donald Trump ngày càng bị cuốn vào cuộc chiến với Iran và các cam kết truyền thống của Washington với đồng minh trở nên khó đoán hơn, cách tiếp cận ấy càng trở nên cấp thiết.
Thực tế, chính ông Trump đã nhiều lần công khai chỉ trích Canberra vì không tham gia hỗ trợ chiến dịch Mỹ - Israel nhằm vào Iran. Điều đó khiến giới hoạch định chính sách Úc càng có thêm lý do để củng cố các mạng lưới tự thân trong khu vực, thay vì đặt toàn bộ kỳ vọng vào chiếc ô an ninh quen thuộc từ Washington.
Đây cũng là lý do mà những mối quan hệ với Indonesia, Nhật Bản, Papua New Guinea hay các nước ASEAN giờ không còn chỉ mang tính kinh tế, mà đã gắn chặt với các tính toán an ninh lâu dài.
Ở khía cạnh năng lượng, Canberra cũng đang triển khai các biện pháp trong nước để hỗ trợ chiến lược đối ngoại này. Chính phủ đã trao quyền cho Export Finance Úc đứng ra bảo lãnh cho hai nhà cung cấp lớn nhất là Ampol và Viva Energy mua thêm nhiên liệu trên thị trường giao ngay, kể cả ở mức giá cao hơn thông thường.
Theo Reuters và AP, Úc đã bảo đảm được các lô hàng nhiên liệu “đến trong tháng 5”, song Albanese vẫn cảnh báo các gián đoạn hiện nay sẽ để lại tác động kéo dài, ngay cả khi lệnh ngừng bắn tại Trung Đông còn trụ được.
Một lý do giúp Úc thuyết phục được các đối tác tiếp tục bán nhiên liệu là vì chính các đối tác đó cũng cần than đá và LNG từ Úc. Nước này đang tận dụng mối phụ thuộc hai chiều này để biến quan hệ thương mại thành công cụ ổn định chuỗi cung ứng. Với Hàn Quốc, Nhật Bản hay Singapore, Canberra không chỉ là khách mua nhiên liệu mà còn là mắt xích cung cấp năng lượng ngược trở lại. Đây là lợi thế mà Úc đang cố biến thành tài sản chiến lược.
Về dài hạn, giới phân tích cho rằng Úc còn có thể đi xa hơn, đặc biệt trong lĩnh vực an ninh lương thực. Trong một khu vực ngày càng lo ngại về năng lượng, vận tải và biến động địa chính trị, vai trò của Úc như một nhà cung cấp ổn định cả về LNG lẫn thực phẩm có thể ngày càng nổi bật.
Theo The Guardian; The Edge Singapore
|
|
0 Replies | 144 Views |
Apr 10, 2026 - 8:19 AM - by Cupcake01
|
Sức mạnh thật của Không quân Mỹ trong cuộc chiến với Iran
New Tab ↗
|
Lần đầu với F-35
Trong gần 6 tuần xung đột với Iran, Mỹ đã chịu tổn thất nặng về máy bay quân sự, vượt xa con số ghi nhận trong cuộc chiến tại Iraq năm 2003.
Việc Iran bắn hạ 1 máy bay F-35 của Mỹ gần đây đánh dấu lần đầu tiên sau 23 năm máy bay chiến đấu của Mỹ bị bắn rơi trong chiến đấu; trường hợp trước đó là ở Iraq năm 2003 khi 1 chiếc A-10 cũng đã bị bắn hạ.
Trong suốt 7 năm chiến dịch Iraq từ năm 2003 đến năm 2009, tổng số máy bay bị thiệt hại của Mỹ lên tới 129 máy bay trực thăng và 24 máy bay cánh cố định, trong đó chỉ có 46 chiếc bị bắn trúng. Các trường hợp còn lại do trục trặc kỹ thuật, hết nhiên liệu và lỗi của phi công.
Kể từ khi bắt đầu cuộc chiến Iran, Mỹ đã mất ít nhất 44 máy bay, bao gồm cả vụ việc đầu tiên máy bay tàng hình thế hệ thứ năm F-35 Lightning II của Mỹ bị bắn trúng.
Danh sách này bao gồm 4 chiếc F-15E Strike Eagle (tờ Wall Street Journal dẫn nguồn thông tin cho biết mẫu ban đầu có giá ít nhất 41 triệu USD, trong khi các mẫu mới hơn có giá gần 100 triệu USD), 2 chiếc A-10 Thunderbolt II, 2 chiếc Lockheed C-130 Hercules, 2 chiếc Boeing E-3 Sentry.
Cùng với đó còn có 8 chiếc Boeing KC-135 Stratotanker, 1 chiếc Boeing CH-47 Chinook, 1 chiếc Sikorsky HH-60 Pave Hawk (bị hư hại), 2 chiếc Sikorsky UH-60 Black Hawk (bị hư hại), 4 chiếc trực thăng MH-6 Little Bird và 17 chiếc General Atomics MQ-9 Reaper.
Các máy bay AWACS có giá trị cao và nhiều máy bay tiếp nhiên liệu KC-135 đã bị hư hại do các cuộc tấn công của Iran vào các căn cứ không quân trong khu vực.
Trong 4 ngày đầu tiên của cuộc chiến, Iran đã tấn công hầu hết các căn cứ quân sự của Mỹ (hoặc các địa điểm chứa máy bay Mỹ) ở vùng Vịnh.
Nước này đã tấn công các radar mặt đất quan trọng của Mỹ liên kết với hệ thống phòng không THAAD, các radar cảnh báo sớm khác và nhiều nút radar và thông tin liên lạc.
Theo các báo cáo của Mỹ, tại căn cứ Al-Jufair ở Bahrain, 2 mái vòm radar chứa hệ thống liên lạc vệ tinh AN/GSC-52B đã bị máy bay không người lái Shahed-2 phá hủy.
Tại UAE, một khu vực của căn cứ Al Dhafra với nhiều ăng-ten vệ tinh đã bị trúng bom, trong khi vẫn chưa rõ liệu radar AN/TPY-2 của hệ thống THAAD tại Al Ruwais có bị hư hại hay không.
Tại Kuwait, các công trình tại căn cứ Ali Al Salem kết nối với hệ thống liên lạc vệ tinh đã bị hư hại, và ít nhất 3 mái vòm radar tại Trại Arifjan đã bị phá hủy.
Tại căn cứ Prince Sultan ở Saudi Arabia, ít nhất một cuộc tấn công đã nhắm vào khu vực liên lạc vệ tinh, nơi trước đó đã triển khai radar AN/TPY-2. Radar cảnh báo sớm và chống tên lửa tầm xa AN/FPS-132 cố định tại Al Udeid ở Qatar cũng đã bị tấn công.
Các nguồn tin của Iran còn tuyên bố có thiệt hại đối với một radar AN/TPY-2 khác tại căn cứ Muwaffaq Salti ở Jordan, mặc dù thông tin này vẫn chưa được xác nhận.
Tại Kuwait, ngoài thiệt hại đối với một số công trình tại căn cứ Ali al Salem dường như có liên quan đến hệ thống liên lạc vệ tinh, ít nhất 3 mái vòm radar tại Trại Arifjan đã bị phá hủy.
Hầu hết các hệ thống radar có giá trị cao này cùng với các máy bay tiếp nhiên liệu trên không, các thiết bị cảnh báo và kiểm soát trên không đã bị nhắm mục tiêu bằng tên lửa đạn đạo hoặc máy bay không người lái Shahed tương đối rẻ tiền (khoảng 50.000 USD mỗi chiếc).
Trong khi Mỹ mất nhiều tài sản mặt đất có giá trị cao trong khu vực và gần 44 máy bay, Israel chỉ chịu tổn thất tối thiểu trên mặt đất.
Nguyên nhân dẫn đến thất bại của Mỹ
Không quân Iran đã bị vô hiệu hóa hoặc phá hủy trong các cuộc không kích ban đầu của Mỹ và Israel, hai nước đã thực hiện hơn 10.000 chuyến bay chiến đấu kể từ khi xung đột bắt đầu.
Không quân Iran không thể sánh kịp với Không quân Mỹ về số lượng và công nghệ. Mặc dù một số lượng đáng kể các hệ thống phòng không của Iran cũng bị vô hiệu hóa, nhưng vẫn còn đủ để tấn công các mục tiêu của đối phương.
Trước khả năng gây nhiễu radar mạnh mẽ của Mỹ và Israel, Iran chủ yếu sử dụng hệ thống IRST (tìm kiếm và theo dõi hồng ngoại) để theo dõi mục tiêu và tên lửa hồng ngoại để tấn công và bắn hạ máy bay.
Chiến lược của Iran nhằm tạo ra một "cuộc chiến tranh tiêu hao" để gia tăng tổn thất cho Mỹ và các đồng minh bất chấp ưu thế rõ ràng trên không của Mỹ.
Việc máy bay chiến đấu tàng hình F-35 có thể bị theo dõi và tấn công cho thấy khả năng Iran đã sử dụng các hệ thống radar giám sát 3D băng tần UHF di động tiên tiến YLC-8B và YLC-8E của Trung Quốc, được thiết kế đặc biệt để phát hiện máy bay tàng hình có khả năng tàng hình thấp.
Mặc dù Không quân và Hải quân Mỹ thường xuyên tập trận với các nước thuộc Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC), bao gồm cả các cuộc "giao tranh quy mô lớn", nhưng các quốc gia GCC hầu như không có kinh nghiệm chiến đấu.
Những khó khăn ban đầu trong việc phối hợp với các quốc gia chủ nhà vùng Vịnh đã góp phần gây ra các sự cố như vụ bắn nhầm đồng minh khiến 3 máy bay F-15E bị rơi trên bầu trời Kuwait.
Mỹ đã đánh giá thấp khả năng phòng thủ và chiến thuật của Iran. Các báo cáo cho thấy Iran có thể vẫn còn nguyên vẹn 50% bệ phóng tên lửa và máy bay không người lái.
Lực lượng Iran đã giấu thành công các hệ thống phòng không di động trong các đường hầm và hầm trú ẩn, cho phép họ phục kích máy bay Mỹ, chứng tỏ đây không phải là cuộc xung đột một chiều.
Rõ ràng, giả định về "chiến tranh nhanh chóng" của Mỹ đã thất bại, biến chiến dịch thành một cuộc chiến tranh tiêu hao kéo dài. Iran cũng tận dụng các lực lượng ủy nhiệm trong khu vực, đầu tư vào máy bay không người lái giá rẻ và đe dọa eo biển Hormuz.
Iran đã tấn công thành công các căn cứ quân sự của Mỹ trên khắp khu vực, bao gồm ở Bahrain, Qatar, Kuwait và Iraq, gây ra thương vong đáng kể. Điều này chứng tỏ ưu thế trên không của Mỹ không đồng nghĩa với an ninh trên mặt đất.
Iran dựa rất nhiều vào các máy bay không người lái giá rẻ, sản xuất trong nước như Shahed, có giá từ 20.000 đến 50.000 USD/chiếc, để áp đảo các hệ thống phòng không hiện đại và đắt tiền như một phần của chiến tranh bất đối xứng.
Cộng hòa Hồi giáo Iran đang thúc đẩy quan hệ quân sự chặt chẽ hơn với Nga, cung cấp máy bay không người lái để đổi lấy các công nghệ tiên tiến như hệ thống phòng không S-400.
Mỹ đã lặp lại những sai lầm từ các cuộc xung đột trước đây (Afghanistan, Iraq) bằng cách chỉ dựa vào việc phá hủy từ trên không mà không có một chiến lược chính trị khả thi rõ ràng. Mặc dù đã vô hiệu hóa được giới lãnh đạo cấp cao, hiệu ứng "đoàn kết quanh lá cờ" của Iran vẫn hiện hữu.
Cuộc xung đột đã làm cạn kiệt đáng kể các nguồn lực quân sự của Mỹ, bao gồm cả những tài sản có giá trị cao như tên lửa Tomahawk và hệ thống đánh chặn Patriot, gây ra tình trạng thiếu hụt ở các chiến trường quan trọng khác như châu Âu và châu Á.
Hầu hết các thành viên NATO đều từ chối tham gia hoặc hỗ trợ tiếp tế. Suy thoái kinh tế toàn cầu do chiến tranh gây ra là mối lo ngại lớn và có thể đã đóng một vai trò trong thỏa thuận ngừng bắn do Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố.
|
|
4 Replies | 310 Views |
Apr 10, 2026 - 8:19 AM - by Cupcake01
|
Mỹ tìm thấy điểm yếu 100 tỷ USD của Iran
New Tab ↗
|
Theo nhiều ước tính, tổng giá trị tài sản của Iran bị phong tỏa ở nước ngoài có thể vượt 100 tỷ USD. Tuy nhiên, con số chính xác vẫn chưa rõ ràng do các khoản tiền này được phân tán ở nhiều quốc gia và dưới nhiều hình thức khác nhau, từ dự trữ ngoại tệ, doanh thu dầu mỏ cho tới các tài khoản ngân hàng quốc tế.
Trong nhiều thập kỷ, Iran đã duy trì các tài khoản ngoại tệ tại các ngân hàng lớn trên thế giới nhằm ổn định đồng rial và phục vụ thanh toán quốc tế. Nhưng các gói trừng phạt liên tiếp từ Mỹ và phương Tây đã cắt đứt quyền tiếp cận những nguồn tài chính này, khiến nền kinh tế Iran rơi vào tình trạng thiếu hụt ngoại tệ nghiêm trọng.
Hệ quả là đồng rial liên tục mất giá, lạm phát tăng vọt và doanh nghiệp trong nước gặp khó khăn khi không thể thanh toán bằng các đồng tiền mạnh như euro hay yen Nhật.
Thậm chí, trong một phiên điều trần tại Quốc hội Mỹ, Bộ trưởng Tài chính Scott Bessent thừa nhận Washington đã chủ động tạo ra tình trạng thiếu USD tại Iran như một công cụ gây sức ép kinh tế.
“Chúng tôi tạo ra sự khan hiếm đồng USD, dẫn đến việc hệ thống ngân hàng rơi vào khủng hoảng, đồng nội tệ lao dốc và lạm phát bùng nổ,” ông cho biết.
Trước khi chiến sựnổ ra, nền kinh tế Iran đã ở trong tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng. Tỷ lệ lạm phát theo số liệu chính thức dao động từ hơn 60% đến trên 68%, mức cao nhất kể từ sau Thế chiến II. Trong bối cảnh đó, việc tiếp cận nguồn tài sản bị phong tỏa trở thành ưu tiên hàng đầu của Tehran.
Thực tế cho thấy, Iran từng nhiều lần gắn việc chấp nhận các thỏa thuận quốc tế với điều kiện được giải phóng tài sản. Năm 2014, sau khi đạt được thỏa thuận hạt nhân tạm thời với nhóm P5+1, Iran đã được phép hồi hương khoảng 4,2 tỷ USD doanh thu dầu mỏ. Một năm sau, thỏa thuận hạt nhân toàn diện (JCPOA) giúp Tehran tiếp cận trở lại hơn 100 tỷ USD tài sản bị đóng băng.
Song, bước ngoặt xảy ra vào năm 2018 khi Tổng thống Mỹ Donald Trump rút khỏi JCPOA và tái áp đặt các lệnh trừng phạt, khiến phần lớn tài sản của Iran một lần nữa bị “đóng băng”. Kể từ đó, Tehran phải tìm cách đàm phán song phương với từng quốc gia để giải phóng các khoản tiền của mình.
Các nguồn tin cho biết một phần đáng kể tài sản của Iran đang nằm tại các quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản - những khách hàng lớn của dầu mỏ Iran trước đây. Ngoài ra, ngân hàng trung ương nước này cũng được cho là có tài khoản tại Trung Quốc, Đức, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ.
Một ví dụ gần đây là khoản 6 tỷ USD doanh thu dầu bị đóng băng tại Hàn Quốc, được chuyển sang Qatar vào năm 2023 theo một thỏa thuận trao đổi tù nhân với Mỹ. Tuy nhiên, Iran chỉ được phép sử dụng số tiền này cho mục đích nhân đạo như mua thực phẩm và thuốc men, dưới sự giám sát chặt chẽ của Washington. Sau đó, khoản tiền này lại tiếp tục bị phong tỏa khi căng thẳng leo thang.
Nguồn gốc của vấn đề tài sản bị đóng băng có thể truy ngược về năm 1979, sau cuộc cách mạng Hồi giáo và cuộc khủng hoảng con tin tại Đại sứ quán Mỹ ở Tehran. Khi đó, Tổng thống Jimmy Carter đã ra lệnh phong tỏa khoảng 12 tỷ USD tài sản của Iran tại Mỹ. Dù một phần được giải phóng sau thỏa thuận Algiers năm 1981, phần lớn tài sản của Iran vẫn tiếp tục bị kiểm soát trong những thập kỷ sau đó.
Hiện tại, quy mô tài sản bị phong tỏa đã tăng lên đáng kể do các lệnh trừng phạt liên quan đến chương trình hạt nhân, tên lửa đạn đạo và cáo buộc tài trợ khủng bố. Mỗi lần đề cập đến việc giải phóng các khoản tiền này đều vấp phải lo ngại từ phương Tây rằng nguồn tài chính có thể được sử dụng cho mục đích quân sự.
Trong bối cảnh đó, các cuộc đàm phán tại Islamabad được dự báo sẽ xoay quanh câu hỏi cốt lõi: Mỹ có sẵn sàng “mở khóa” một phần tài sản của Iran hay không và nếu có thì với điều kiện nào.
Theo Euronews
|
|
0 Replies | 200 Views |
Apr 10, 2026 - 8:18 AM - by Cupcake01
|
Mexico tìm cách thoát khỏi sự phụ thuộc khí đốt vào Mỹ
New Tab ↗
|
Tổng thống Mexico cho biết nước này đang tìm cách khai thác các mỏ khí đốt tự nhiên phi truyền thống để tăng cường chủ quyền năng lượng khi thị trường toàn cầu chao đảo vì xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran.
Mexico, nước láng giềng phía nam của Mỹ, hiện là khách hàng nhập khẩu khí đốt tự nhiên lớn nhất của Washington. Nguồn cung khí đốt tự nhiên từ Mỹ đang đáp ứng khoảng 3/4 nhu cầu của Mexico, trong khi sản lượng nội địa từ các mỏ truyền thống của Mexico đã giảm và không còn đáp ứng được nhu cầu của nước này.
Theo đài RT, Mexico đã phát tín hiệu về việc chuyển hướng sang khai thác khí đốt trong nước bằng phương pháp thủy lực khi giá năng lượng toàn cầu tăng vọt do chiến sự ở Trung Đông.

Tổng thống Mexico Claudia Sheinbaum. Ảnh: EPA
“Nếu chúng ta tiếp tục như thế này, chúng ta sẽ nhập khẩu ngày càng nhiều khí đốt tự nhiên. Các lựa chọn khác là khí đá phiến, khí đốt phi truyền thống … Nhập khẩu thì có vấn đề gì? Hãy nhìn xem nhiều quốc gia trên thế giới đang phải chịu đựng như thế nào vì những gì đã xảy ra ở Iran”, Tổng thống Mexico Claudia Sheinbaum phát biểu.
Giá nhiên liệu đã tăng vọt kể từ khi Mỹ cùng Israel phát động chiến dịch quân sự chống Iran vào cuối tháng 2 và các động thái đáp trả của Tehran đã dẫn đến những gián đoạn xung quanh eo biển Hormuz, nơi khoảng 1/5 lượng dầu mỏ toàn cầu được vận chuyển qua, khiến thị trường thế giới luôn trong tình trạng bất ổn.
Bà Sheinbaum để ngỏ khả năng hạn chế nhập khẩu khí đốt từ Mỹ trong bối cảnh căng thẳng leo thang giữa Mexico và Washington.
Hồi đầu năm nay, Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết ông có thể ra lệnh tấn công các băng đảng ma túy trên lãnh thổ Mexico sau khi điều lực lượng đột kích, bắt giữ vợ chồng Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro. Ông Trump cũng cáo buộc các băng đảng ma túy đang kiểm soát Mexico, đồng thời đổ lỗi cho nước láng giềng góp phần thúc đẩy dòng chảy ma túy và người di cư bất hợp pháp vào Mỹ.
Năm ngoái, ông Trump thậm chí đã đe dọa áp thuế 30% đối với hàng nhập khẩu từ Mexico dù sau đó mức thuế đã được giảm xuống thông qua các cuộc đàm phán.
Mexico khẳng định đã hợp tác trong các nỗ lực chống ma túy nhưng không chấp nhận bất kỳ sự hiện diện quân sự của lực lượng nước ngoài nào. Tổng thống Sheinbaum nhấn mạnh bất kỳ hành động nào như vậy sẽ vi phạm chủ quyền quốc gia.
VietBF@sưu tập
|
|
0 Replies | 90 Views |
Apr 10, 2026 - 8:18 AM - by troopy
|
Tổng thống Nga Putin tuyên bố ngừng bắn
New Tab ↗
|
Theo quyết định của Tổng Tư lệnh tối cao các Lực lượng Vũ trang Liên bang Nga Vladimir Putin, lệnh ngừng bắn sẽ có hiệu lực từ 16h ngày 11/4 (giờ Moscow, tức 13h GMT) đến hết ngày 12/4/2026 (21h GMT).
Trong thời gian này, quân đội Nga được chỉ thị dừng mọi hoạt động chiến đấu trên tất cả các hướng, đồng thời duy trì trạng thái sẵn sàng để đối phó với mọi hành động gây hấn từ phía đối phương.
Thông báo nêu rõ: Bộ trưởng Quốc phòng Liên bang Nga Andrey Belousov và Tổng tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang - Tư lệnh Nhóm quân liên hợp - Đại tướng Valery Gerasimov đã được giao nhiệm vụ ngừng toàn bộ hoạt động chiến đấu trong giai đoạn này. Quân đội Nga phải luôn sẵn sàng đẩy lùi mọi hành động khiêu khích hoặc tấn công từ phía đối phương.
Điện Kremlin cho biết, Nga kỳ vọng Ukraine sẽ noi theo và cũng tuyên bố lệnh ngừng bắn trong dịp Lễ Phục sinh Chính thống giáo.
Năm ngoái, Nga cũng từng tuyên bố lệnh ngừng bắn nhân dịp Lễ Phục sinh tại khu vực chiến dịch đặc biệt, nhưng thời gian kéo dài 3 ngày.
Theo TASS
|
|
0 Replies | 147 Views |
Apr 10, 2026 - 8:18 AM - by Cupcake01
|
OVs encouraged to expand distribution channels for Vietnamese goods abroad
New Tab ↗
|
Overseas Vietnamese are expected to serve as a strategic on-site force in promoting Vietnamese goods and expanding access to global retail systems and supply chains, particularly in countries with large Vietnamese communities.
On April 3, 2026, Prime Minister Phạm Minh Chính enacted Directive No. 11/CT-TTg, a strategic initiative designed to harness the influence of the overseas Vietnamese (OV) community to expand the global footprint of Vietnamese products through 2030. This policy recognizes that between 2020 and 2024, the diaspora played a pivotal role in trade promotion, and the government now seeks to formalize and scale this success. By positioning OVs as a "strategic on-site force," the directive aims to move beyond traditional markets and integrate Vietnamese goods into major international supermarket chains and reputable retail systems, particularly in regions with high concentrations of Vietnamese residents.
The directive is closely aligned with the ambitious economic targets set by the 14th National Party Congress, which envisions Vietnam attaining upper-middle-income status by 2030 and becoming a high-income developed nation by 2045. To support this transition, the government is shifting its export strategy toward sustainability and high-tech competitiveness. The mandate calls for Vietnamese products to meet rigorous international "green" and digital standards, with an emphasis on improved traceability and anti-counterfeiting measures. By 2030, the goal is for OVs to participate in distribution networks across every country and territory they inhabit, acting as a primary bridge for domestic small- and medium-sized enterprises to navigate global supply chains.
A major focus of the directive is the promotion of "Make in Vietnam" technologies on the world stage. The Ministry of Science and Technology has been tasked with connecting the diaspora with the domestic innovation ecosystem to commercialize cutting-edge sectors such as artificial intelligence, blockchain, semiconductors, and unmanned aerial vehicles (UAVs). Simultaneously, the Ministry of Foreign Affairs and the Ministry of Industry and Trade will work to strengthen economic diplomacy, supporting the formation of foreign business associations and the development of essential logistics and warehousing infrastructure to stabilize supply lines abroad.
The implementation plan involves a multi-ministerial effort to modernize how Vietnam does business globally. This includes expanding e-commerce adoption, creating digital databases for enterprises, and hosting large-scale international trade fairs. While the Ministry of Agriculture and Environment will focus on integrating OVs into agricultural supply chains, the Ministry of Finance is responsible for removing administrative barriers that currently hinder overseas investment by Vietnamese firms. Ultimately, this directive seeks to turn the 6-million-strong overseas Vietnamese community into a powerful engine for national brand recognition, ensuring that Vietnamese-made goods and technologies are competitive in the high-standard markets of the future.
|
|
0 Replies | 3,636 Views |
Apr 10, 2026 - 8:17 AM - by june04
|
Giá dầu neo cao, tàu chở 1,2 triệu thùng của Iran bị một nước Đông Nam Á tịch thu hoá 'món hời' lớn
New Tab ↗
|
Trong bối cảnh eo biển Hormuz vẫn bị phong tỏa và nhiều nước đang chật vật để có đủ dầu, hiện có khoảng 1,2 triệu thùng dầu ngoài khơi bờ biển Singapore chưa được sử dụng.
Tàu chở dầu siêu trọng Arman 114 mang cờ Iran, bị Indonesia thu giữ năm 2023, đang neo đậu gần Batam, cách thành phố này khoảng 15 hải lý.
Lượng dầu thô nhẹ đang tồn đọng trên tàu không đủ để đáp ứng nhu cầu năng lượng của nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á, nhưng với giá dầu dao động quanh mức 100 USD/thùng , lượng dầu trên tàu Arman 114 hiện có giá trị hơn rất nhiều so với nhiều tuần trước.
Giới chức Indonesia đã thu giữ tàu Arman gần 3 năm trước sau khi phát hiện tàu này chuyển dầu thô trái phép sang một tàu chở dầu khác trong vùng biển nước này. Vào tháng 7/2024, một tòa án Indonesia đã kết án thuyền trưởng của tàu Arman 114 về hành vi vi phạm môi trường, tuyên phạt người này 7 năm tù và ra lệnh tịch thu tàu cùng hàng hóa.
Viên thuyền trưởng đã biến mất trước khi có phán quyết cuối cùng và cho đến nay vẫn chưa bị bắt giữ.
Sau 2 lần đấu giá con tàu cùng toàn bộ hàng hoá trên tàu bất thành, siêu tàu chở dầu này vẫn đang neo đậu tại Batam, một hòn đảo cách Singapore khoảng một giờ đi phà.
Phiên đấu giá đầu tiên diễn ra vào tháng 12 năm ngoái, với giá khởi điểm khoảng 70 triệu USD nhưng không có người mua. Phiên bán đấu giá thứ hai đã thất bại vào tháng 1 năm nay sau khi các bên quan tâm không đáp ứng được các yêu cầu về giấy phép.
Vào thời điểm đó, giá chào bán thấp hơn nhiều so với giá trị ước tính của dầu thô trên tàu, vì đã tính tới yếu tố dầu ứ đọng trong nhiều năm và có thể đã bị hỏng.
Nếu áp dụng mức chiết khấu tương tự với giá hiện tại, giá chào mua ban đầu sẽ lên tới gần 100 triệu USD.
Mặc dù 1,2 triệu thùng dầu chỉ đáp ứng nhu cầu chưa đầy 1 ngày của Indonesia, nhưng với giá dầu vẫn ở mức cao, chính quyền có thể có lý do mới để xem xét lại thương vụ này.
Theo The Edge Malaysia
|
|
0 Replies | 167 Views |
Apr 10, 2026 - 8:17 AM - by Cupcake01
|
Quá trình ông Trump chuyển từ đe dọa sang đồng ý ngừng bắn 2 tuần với Iran
New Tab ↗
|
Sau nhiều diễn biến tưởng chừng như leo thang gần hạn chót, ông Trump đồng ý với lệnh ngừng bắn 14 ngày mà ông hy vọng sẽ mở đường chấm dứt xung đột kéo dài gần sáu tuần với Iran.
Sự thay đổi giọng điệu đầy kịch tính diễn ra khi các bên trung gian do Pakistan dẫn đầu nỗ lực không ngừng để ngăn chặn leo thang căng thẳng. Ngay cả Trung Quốc, đối tác thương mại lớn nhất của Iran và là đối thủ kinh tế lớn của Mỹ, được cho là cũng âm thầm can thiệp để tìm lối đi đến lệnh ngừng bắn, theo hai quan chức được biết về vấn đề này.
“ Lý do là vì chúng ta đạt và vượt tất cả các mục tiêu quân sự, và đang tiến rất gần tới thỏa thuận rõ ràng về hòa bình lâu dài với Iran, cũng như hòa bình ở Trung Đông", ông Trump viết trên mạng xã hội khi công bố lệnh ngừng bắn tạm thời. Thông báo này được đưa ra khoảng 90 phút trước hạn chót ông đặt ra để Tehran mở lại eo biển Hormuz, nếu không sẽ phải đối mặt với việc các nhà máy điện và cơ sở hạ tầng quan trọng bị phá hủy.
Thỏa thuận mong manh và nhiều bất đồng
Tuy Nhà Trắng coi đây là chiến thắng, lệnh ngừng bắn mong manh nhanh chóng có nguy cơ sụp đổ khi Mỹ, Iran và Israel đưa ra các tuyên bố khác nhau về nội dung thỏa thuận chưa đầy 24 giờ sau khi đạt được.
Iran khẳng định việc chấm dứt chiến dịch của Israel tại Lebanon là phần của thỏa thuận với Mỹ. Tuy nhiên, Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu và ông Trump cho biết lệnh ngừng bắn không bao gồm Lebanon, và các hoạt động quân sự của Israel tại đó vẫn tiếp diễn.
Trong khi đó, Mỹ yêu cầu Iran phải mở lại eo biển Hormuz sau khi Tehran đóng tuyến đường này để đáp trả các cuộc tấn công gia tăng của Israel nhằm vào lực lượng Hezbollah tại Lebanon.
Phó Tổng thống JD Vance, người sẽ dẫn đầu phái đoàn Mỹ tới Pakistan để đàm phán với Iran, giảm nhẹ những trục trặc ban đầu: “ Không có lệnh ngừng bắn nào mà không có chút trục trặc".
Áp lực quốc tế và phản ứng trái chiều
Ông Trump cũng gặp Tổng thư ký NATO Mark Rutte tại Nhà Trắng. Ông tỏ ra không hài lòng khi các nước NATO không đáp lại lời kêu gọi hỗ trợ mở lại tuyến đường biển quan trọng này trong bối cảnh giá năng lượng tăng cao.
Khi hạn chót đến gần, các nghị sĩ Đảng Dân chủ chỉ trích lời đe dọa “xóa sổ cả nền văn minh” của ông Trump. Giáo hoàng Pope Leo XIV cũng cảnh báo rằng các cuộc tấn công vào cơ sở hạ tầng dân sự sẽ vi phạm luật pháp quốc tế.
Cuối cùng, ông Trump có thể lùi bước vì thực tế đơn giản: leo thang xung đột có nguy cơ kéo Mỹ vào “cuộc chiến bất tận” - điều từng gây khó khăn cho các tổng thống tiền nhiệm và là điều ông cam kết tránh.
Kiểm soát eo biển Hormuz: nhiệm vụ tốn kém và lâu dài
Trong suốt sáu tuần chiến sự, Mỹ dường như tin rằng có thể buộc Iran phải nhượng bộ bằng sức mạnh quân sự.
Bắt đầu từ việc tấn công lãnh tụ tối cao Ali Khamenei trong những đợt đầu tiên, Mỹ dường như đánh giá thấp khả năng Iran chọn cuộc chiến kéo dài . Tuy nhiên, trong 47 năm qua, Iran cho thấy họ sẵn sàng chịu đựng và kéo dài xung đột, ngay cả khi điều đó gây tổn hại nhất định cho chính họ.
Các nhà phân tích quốc phòng cho rằng quân đội Mỹ có thể nhanh chóng kiểm soát eo biển Hormuz - tuyến đường vận chuyển khoảng 20% lượng dầu toàn cầu mỗi ngày. Tuy nhiên, việc duy trì kiểm soát sẽ rất tốn kém và rủi ro, có thể kéo dài nhiều năm.
Theo chuyên gia Ben Connable, Mỹ sẽ cần kiểm soát khoảng 600 km lãnh thổ Iran và triển khai từ 30.000 đến 45.000 binh sĩ để đảm bảo an ninh tuyến đường này.
“Đây sẽ là chiến dịch vô thời hạn - hãy hình dung là kéo dài 20 năm" , ông nói, so sánh với các cuộc chiến tại Afghanistan và Iraq.
Vai trò của Phó Tổng thống JD Vance
Phó Tổng thống JD Vance được xác nhận sẽ dẫn đầu đoàn đàm phán Mỹ, cùng với đặc phái viên Steve Witkoff và Jared Kushner, dự kiến bắt đầu đàm phán tại Islamabad, thủ đô Pakistan.
Các nguồn tin cho biết khi hạn chót đến gần mà chưa có giải pháp, ông Vance - người từ lâu ủng hộ hạn chế can thiệp quân sự - đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hướng đi ngoại giao.
Ông bày tỏ sự lạc quan thận trọng: “Tôi khuyến khích Iran tham gia đàm phán cách nghiêm túc… Về cơ bản, chúng ta đang ở vị thế tốt".
Quan chức khu vực cho biết thỏa thuận ngừng bắn hai tuần bao gồm việc cho phép Iran và Oman thu phí các tàu đi qua eo biển Hormuz , và Iran sẽ sử dụng nguồn thu này cho tái thiết.
Người phát ngôn Nhà Trắng Karoline Leavitt cho biết ông Trump từng cân nhắc ý tưởng thu phí, nhưng ưu tiên trước mắt là mở lại eo biển “không có bất kỳ hạn chế nào”.
|
|
0 Replies | 82 Views |
Apr 10, 2026 - 8:17 AM - by Cupcake01
|
Ba kịch bản có thể xảy ra sau hai tuần ngừng bắn giữa Mỹ và Iran
New Tab ↗
|
Bình luận trên kênh RT ngày 9/4, chuyên gia Sergey Poletaev, đồng sáng lập và biên tập viên dự án Vatfor, cho rằng có ba kịch bản có thể xảy ra sau hai tuần ngừng bắn giữa Mỹ và Iran. Theo ông, kịch bản nào cũng có vẻ có lợi cho Iran.
Trường hợp Mỹ và Iran tạm dừng giao tranh nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, hoàn toàn có thể xảy ra. Khi hai bên không đạt được thỏa thuận hòa bình chính thức, thỏa thuận ngừng bắn vẫn có thể liên tục được gia hạn.
Trong trường hợp đó, ưu tiên hàng đầu của các quốc gia Arab sẽ là xây dựng thế hệ hệ thống phòng không mới. Mô hình khá rõ ràng: dựa vào các loại tên lửa đánh chặn giá rẻ, sản xuất hàng loạt, dù là triển khai trên mặt đất (như hệ thống Pantsir của Nga) hay phóng từ trên không (như APKWS). Cả các quốc gia Arab và Israel có khả năng tập trung vào hướng này, đồng thời bổ sung kho dự trữ phòng không truyền thống.

Tàu chở dầu cập cảng Mumbai, Ấn Độ, sau khi di chuyển qua eo biển Hormuz. Ảnh: ANI/TTXVN
Ưu tiên thứ hai sẽ là đa dạng hóa hậu cần thông qua xây dựng các đường ống mới tới Biển Đỏ và tìm giải pháp thay thế cho các tuyến vận tải qua vùng Vịnh. Mục tiêu rất rõ: thoát khỏi sự kiểm soát của Iran tại eo biển Hormuz và giảm đòn bẩy của nước này. Tuy nhiên, với các quốc gia như Qatar, Bahrain, Kuwait và Iraq, xây dựng đường ống xuyên bán đảo Arab sẽ đồng nghĩa với việc phụ thuộc vào một cường quốc khu vực khác là Saudi Arabia. Khi đó, sẽ có phí trung chuyển.
Tất cả những điều này không giải quyết được vấn đề cốt lõi. Địa lý của vùng Vịnh khiến việc bảo vệ toàn diện là bất khả thi. Trên quãng hơn 500 hải lý (khoảng 1.000 km), mọi tuyến hàng hải đều nằm trong tầm với của Iran. Dọc theo bờ biển, các cảng, nhà máy, cơ sở khử mặn, kho chứa dầu, trung tâm dữ liệu, khách sạn và các tòa nhà cao tầng đều là mục tiêu của Iran. Bảo vệ tất cả những mục tiêu đó từ phía biển là cực kỳ khó khăn. Trong thời gian trước mắt, các quốc gia Arab có khả năng sẽ chọn cách trả tiền để được đi lại an toàn.
Cuối cùng, các nước này sẽ không thực sự quan tâm ai cung cấp “ô an ninh”. Trước đây họ trả tiền cho Mỹ, giờ họ sẽ trả cho Iran. Mức giá mà truyền thông đưa tin là vào khoảng 2 triệu USD cho mỗi siêu tàu chở dầu, tương đương chỉ 2-3% giá trị dầu trên tàu. Sau cùng, người mua sẽ là bên gánh chi phí.
Mỹ và Israel có thể đã góp phần tạo ra một trật tự khu vực mới phù hợp với logic chính trị tại Trung Đông. Theo ông Poletaev, giờ đây Mỹ và Israel sẽ phải đối mặt với một quá trình dài và khó khăn để khôi phục ảnh hưởng. Mọi động thái của họ sẽ bị các quốc gia Arab nhìn nhận hoài nghi.
Kịch bản 2: Leo thang trở lại
Hoàn toàn có khả năng sau hai tuần, chiến tranh lại bùng phát, thậm chí với cường độ lớn hơn. Các nhà đàm phán Iran có thể lại trở thành mục tiêu ám sát, dẫn tới lệnh ngừng bắn sụp đổ sớm.
Tuy nhiên, chuyên gia Poletaev cho rằng khả năng này tương đối thấp. Dù Mỹ và Israel có năng lực quân sự đáng kể, nhưng họ hiện chưa có con đường rõ ràng để đánh bại Iran một cách dứt điểm bằng các phương tiện thông thường.
Thực tế, ngoài kịch bản hạt nhân, liên minh này có hai lựa chọn chính.
Lựa chọn thứ nhất là chiến dịch ném bom chiến lược quy mô lớn nhằm “đưa Iran trở lại thời kỳ đồ đá”. Điều đó đòi hỏi máy bay ném bom chiến lược của Mỹ hoạt động trực tiếp trên không phận Iran. Đây là phương án rủi ro, như sự cố gần Isfahan đã cho thấy. Trong điều kiện như vậy, máy bay B-52 thậm chí dễ bị tổn thương hơn các tiêm kích hiện đại vì dễ bị bắn hạ như máy bay dân dụng.
Trong khi đó, năng lực tên lửa của Iran không chỉ tồn tại mà còn cho thấy dấu hiệu phục hồi và tăng nhịp độ hoạt động. Lực lượng Mỹ cũng không thể gây gián đoạn đáng kể cơ sở hạ tầng phóng thiết bị bay không người lái của Iran. Điều đó đồng nghĩa chiến dịch ném bom quy mô lớn nào cũng có nguy cơ bị Iran trả đũa và gây thiệt hại đáng kể, đặc biệt đối với các quốc gia Arab sản xuất dầu, từ đó kéo dài và làm sâu sắc thêm cú sốc dầu mỏ toàn cầu, có thể đẩy thế giới vào khủng hoảng tài chính.
Israel cũng sẽ bị tác động. Theo báo cáo của ngân hàng JPMorgan dẫn nguồn từ Viện Do Thái về An ninh Quốc gia Mỹ, tỷ lệ thành công của các cuộc tấn công từ Iran vào lãnh thổ Israel đã tăng mạnh, từ 3% khi bắt đầu cuộc chiến lên 27% vào cuối tháng 3 và đầu tháng 4. Phần lớn do hệ thống phòng không của Israel bị quá tải và suy giảm.
Lựa chọn thứ hai là chiến dịch trên bộ quy mô lớn, dọc bờ biển Iran hoặc nhằm vào các đảo do Iran kiểm soát. Chiến dịch này đi kèm với mọi rủi ro của chiến tranh trên không và tổn thất lớn là điều không thể tránh khỏi. Lợi ích với Mỹ và Israel là gần như không có. Các cuộc đột kích đổ bộ quy mô nhỏ sẽ không đạt được nhiều điều, trong khi đổ bộ toàn diện nhằm thay đổi chế độ là không khả thi.
Tất cả những điều này không có nghĩa là leo thang không thể xảy ra. Điều đó có nghĩa là trước khi leo thang, lãnh đạo Mỹ và Israel phải giải bài toán tương tự như khi bắt đầu cuộc chiến hiện nay trong bối cảnh đã biết về sức chống chịu của Iran, năng lực quân sự của nước này và phản ứng của quốc tế.
Nếu hoạt động vận tải qua eo biển Hormuz được nối lại rồi lại bị gián đoạn bởi hành động của Mỹ hoặc Israel, họ sẽ bị nhìn nhận là bên gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Kịch bản 3: Va chạm cường độ thấp khi Iran kiểm soát Hormuz
Theo chuyên gia Poletaev, đây là kịch bản có khả năng xảy ra cao nhất. Thực tế, kịch bản này dường như đã bắt đầu: Iran cáo buộc Israel vi phạm lệnh ngừng bắn khi tấn công Hezbollah ở Liban.
Nếu hoạt động qua eo biển Hormuz tiếp tục tương đối thông suốt, mô hình căng thẳng kéo dài và các cuộc đáp trả lẻ tẻ có thể trở thành trạng thái bình thường mới. Israel tiến hành các cuộc tấn công (hoặc Iran cho rằng mình bị tấn công); Iran đáp trả bằng cách tạm thời đóng eo biển này trong một hoặc hai ngày và có thể kèm theo một đòn trả đũa.
Sau vài tuần hoặc vài tháng, tình hình căng thẳng vẫn tiếp diễn, nhưng thế giới sẽ quen dần và không còn chú ý nhiều nữa. Khi đó, khu vực Trung Đông trở nên kém ổn định hơn, nhưng phần còn lại của thế giới phần lớn vẫn không chú ý quá mức, miễn là dầu mỏ và các nguồn tài nguyên khác vẫn tiếp tục chảy ra khỏi vịnh Ba Tư.
VietBF@sưu tập
|
|
0 Replies | 91 Views |
Apr 10, 2026 - 8:16 AM - by troopy
|
Mỹ không "nắm được đằng chuôi", Iran cũng không thể kéo dài chiến sự
New Tab ↗
|
Dù sở hữu sức mạnh quân sự và kinh tế vượt trội trước Iran, Mỹ dường như không thể "nắm đằng chuôi", trong cả ngoại giao lẫn trên chiến trường.
Tổng thống Mỹ Donald Trump thường chế giễu Ukraine không có quân bài nào trong cuộc chiến với Nga. Giờ đây, chính Mỹ lại đối mặt với những câu hỏi ngày càng lớn về “quân bài” của mình trong cuộc chiến với Iran.
Mỹ - với dân số gấp 3 lần Iran, đồng thời sở hữu sức mạnh quân sự và kinh tế mạnh nhất thế giới - rõ ràng có ưu thế áp đảo trong cán cân quyền lực. Bên cạnh đó, Mỹ còn được Israel hỗ trợ về mặt quân sự lẫn tình báo, khiến cuộc chiến này dường như không cân sức.
Sức ép lên Mỹ
Tuy nhiên, Iran đã biến vài lợi thế ít ỏi thành sức ép nặng nề lên Mỹ. Một số nhà phân tích tin rằng Tehran đã nắm bắt được thế chủ động chiến lược. Ông Donald Trump có thể nhiều quyền lực hơn nhưng để giành chiến thắng tuyệt đối, Nhà Trắng phải chấp nhận mức độ thiệt hại về chính trị và kinh tế khó tưởng tượng.
Iran không thể đánh bại Mỹ và Israel, song họ tung ra con át chủ bài cuối cùng bằng cách đóng cửa eo biển Hormuz, qua đó kìm kẹp nền kinh tế toàn cầu và gây tổn thất chính trị cho Mỹ.
Điểm yếu chiến lược làm suy yếu ưu thế quân sự của Mỹ thể hiện rõ trong cuộc họp báo của Nhà Trắng hôm 30-3.
Thư ký báo chí Nhà Trắng Karoline Leavitt khi đó cho rằng việc Iran sẵn lòng "cho phép thêm 20 tàu chở dầu đi qua eo biển Hormuz trong những ngày tới" là thắng lợi cho “nỗ lực ngoại giao của tổng thống”.
Tuy nhiên, thực tế này lại khá khó hiểu, vì Mỹ - với tư cách là cường quốc mạnh hơn - không nên ở vị thế phải đàm phán nhượng bộ.
Đó là chưa kể 20 tàu chở dầu không đáng gì so với mức trung bình hàng ngày lên tới hơn 100 tàu qua lại Hormuz trước chiến sự. Nếu Mỹ và Israel không phát động xung đột, không ai phải "xin phép" để đi qua eo biển như hiện tại. Vì vậy, "chiến thắng ngoại giao đầu tiên" của ông Donald Trump kể trên chỉ đơn thuần là khắc phục phần nhỏ hệ lụy tiêu cực do chính ông gây ra.
Mỹ có đủ sức mạnh quân sự để mở lại eo biển. Tuy nhiên, việc điều Hải quân Mỹ đi qua eo biển sẽ trao cho Iran một chiến thắng về mặt truyền thông nếu họ tấn công hoặc thậm chí đánh chìm tàu Mỹ. Nhà Trắng có thể phải điều thêm bộ binh để đẩy lùi Iran, làm tăng nguy cơ lính Mỹ thương vong, khiến uy tín chính trị của Washington suy yếu hơn nữa.
Ngay cả khi Mỹ cho quân chiếm đảo Kharg, trái tim của xuất khẩu dầu mỏ Iran, hoặc các đảo quanh eo biển Hormuz, không có gì đảm bảo Iran sẽ nhượng bộ. Dù nền kinh tế có thể bị bóp nghẹt song Iran nhiều khả năng vẫn đáp trả, thậm chí còn siết chặt eo biển Hormuz hơn nữa.
Iran cũng cần được bỏ lệnh trừng phạt
Washington vẫn còn một át chủ bài chưa sử dụng, đó là siết chặt lệnh trừng phạt Iran. Song điều này gây tổn hại cho cả Mỹ và Iran. Thế bế tắc hiện rõ khi Mỹ trước đó thực hiện bước đi trái với thường tình là dỡ bỏ lệnh trừng phạt với một số lô hàng dầu của Iran trên biển trong bối cảnh giá dầu tăng vọt.
Mỹ và Israel có lẽ đúng khi tuyên bố phá hủy gần hết năng lực quân sự của Iran. Tuy nhiên, Iran chỉ cần phóng một vài vũ khí vào eo biển Hormuz hoặc các thành phố ven vịnh để gây ra tổn thất kinh tế không cân xứng.
Chiến sự càng kéo dài, cái giá Mỹ phải trả càng cao, đồng nghĩa ông Donald Trump phải cân nhắc một thỏa thuận trong thế nhượng bộ. Tuy nhiên, Iran cũng cần được dỡ bỏ lệnh trừng phạt.
Xét cho cùng, đòn bẩy trong chiến sự chỉ có giá trị nếu mang lại chiến thắng chiến lược. Cả Mỹ và Iran đều nắm giữ những lợi thế có thể mang tính quyết định. Tuy nhiên, họ cần thận trọng. Việc một bên không đưa ra được giải pháp hợp tình hợp lý cho bên kia có thể dẫn họ, và cả thế giới, đến thảm họa.
|
|
0 Replies | 121 Views |
Apr 10, 2026 - 8:16 AM - by Cupcake01
|
|