Vì sao kế hoạch phân chia lại khu vực bầu cử ở Virginia lại không hề giống với kế hoạch phân chia lại khu vực bầu cử của đảng Cộng hòa?
Trong một cuộc phỏng vấn trên MSNOW, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Đảng Dân chủ (DNC) Ken Martin đã cố gắng bảo vệ nỗ lực phân chia lại khu vực bầu cử mới nhất của đảng Dân chủ ở Virginia bằng cách coi đó là một phản ứng chính đáng đối với đảng Cộng hòa.
Nhưng lập luận của ông đã bỏ qua thực tế quan trọng nhất: những gì xảy ra ở Virginia về cơ bản khác với các cuộc tranh chấp phân chia lại khu vực bầu cử điển hình ở các bang hoàn toàn thuộc đảng Cộng hòa hoặc đảng Dân chủ.
Cử tri Virginia đã thông qua cuộc trưng cầu dân ý về việc phân chia lại khu vực bầu cử với tỷ lệ sít sao 51,5% so với 48,6%, cho phép cơ quan lập pháp do đảng Dân chủ kiểm soát tiến hành lập bản đồ khu vực bầu cử quốc hội mới.
Bản đồ này có thể giúp đảng Dân chủ giành được tới 10 trong số 11 ghế tại Quốc hội bang Virginia, một sự thay đổi đáng kể so với ưu thế hiện tại là 6-5 của đảng Dân chủ.
Một thẩm phán ở Virginia sau đó đã ngăn chặn việc chứng nhận kết quả bỏ phiếu, phán quyết rằng biện pháp này vi phạm hiến pháp tiểu bang và ngôn ngữ trên phiếu bầu gây hiểu nhầm. Tiểu bang dự kiến sẽ kháng cáo.
Đây không phải là một tranh chấp kỹ thuật nhỏ. Đây là cốt lõi của vấn đề.
Virginia đã có một quy trình phân chia lại khu vực bầu cử được xây dựng dựa trên một ủy ban phi đảng phái. Bản đồ khu vực bầu cử quốc hội hiện tại của tiểu bang không phải là một sự sắp xếp khu vực bầu cử cực đoan nhằm thiên vị đảng Cộng hòa.
Điều đó phản ánh sự phân chia cử tri sít sao ở Virginia, nơi cả đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa đều có sức mạnh chính trị thực sự. Đó là lý do tại sao phái đoàn có vị trí gần giữa, chứ không phải là sự phân chia đảng phái 10-1.
Bản đồ phân chia khu vực bầu cử mới do đảng Dân chủ hậu thuẫn sẽ biến một bang tranh chấp gay gắt thành một đoàn đại biểu quốc hội hoàn toàn không phản ánh cử tri thực tế.
Đảng Cộng hòa phân chia lại khu vực bầu cử ở các bang như Texas và Florida vì những bang này vốn đã là thành trì vững chắc của đảng Cộng hòa. Đảng Dân chủ cũng làm điều tương tự ở những nơi như New York và California.
Việc phân chia lại khu vực bầu cử là một vấn đề chính trị, và cả hai đảng đều sử dụng nó. Nhưng việc vẽ lại ranh giới của một bang tranh chấp giữa chu kỳ bầu cử để tạo ra lợi thế gần như tuyệt đối cho một đảng phái nào đó là một hành động vượt quá giới hạn nghiêm trọng hơn nhiều.
Martin không đề cập đến sự khác biệt đó. Thay vào đó, ông chế giễu đảng Cộng hòa và cho rằng đảng Dân chủ chỉ đơn giản là "phản kháng".
Ông lập luận rằng đảng Cộng hòa đã khơi mào cuộc tranh chấp về việc phân chia lại khu vực bầu cử và đảng Dân chủ không phải là "mang bút chì đi đánh nhau bằng dao".
Đó có thể là lời lẽ hùng biện hiệu quả trên truyền hình, nhưng nó không trả lời câu hỏi cơ bản: tại sao một bang dao động với cử tri gần như cân bằng lại bị biến thành một bản đồ mà một đảng có thể kiểm soát gần như mọi ghế trong quốc hội?
Đảng Dân chủ không thể vừa tuyên bố đang bảo vệ nền dân chủ vừa thúc đẩy một bản đồ phân chia lãnh thổ có thể làm giảm số ghế đại diện của đảng Cộng hòa tại Virginia xuống còn 1 ghế trong tổng số 11 ghế.
Họ không thể khăng khăng rằng việc phân chia lại khu vực bầu cử là nguy hiểm khi đảng Cộng hòa làm điều đó, rồi lại ăn mừng khi đảng Dân chủ sử dụng công cụ tương tự một cách quyết liệt hơn ở một tiểu bang mà hậu quả còn nghiêm trọng hơn nhiều.
Sự đạo đức giả quá rõ ràng.
Một bản đồ công bằng ở một bang tranh chấp cần phản ánh cử tri sống ở đó. Virginia không phải là California. Nó không phải là New York. Nó không phải là một bang "xanh đậm" nơi đảng Dân chủ tự nhiên chiếm ưu thế ở mọi khu vực.
Thay vào đó, Virginia là một tiểu bang có tính cạnh tranh cao, và bản đồ phân chia khu vực bầu cử quốc hội của tiểu bang này nên phản ánh tính cạnh tranh đó.
Thay vào đó, đảng Dân chủ đã thúc đẩy một kế hoạch có thể xóa bỏ hầu hết các đại diện của đảng Cộng hòa, nhưng lại gọi đó là dân chủ.
Đó mới là câu chuyện thực sự từ cuộc phỏng vấn của Martin trên MSNOW. Chủ tịch DNC đã không bảo vệ sự công bằng.
Ông ta biện hộ cho một chiến thuật chính trị được thiết kế để giúp đảng Dân chủ có thêm ghế, quyền kiểm soát và cơ hội tốt hơn để giành lại quyền kiểm soát Hạ viện.
Đảng Cộng hòa nên gọi thẳng tên sự việc: đó là một cuộc tranh giành quyền lực của đảng Dân chủ tại một trong những bang quan trọng nhất có thể thay đổi kết quả bầu cử trên cả nước.
Một email nội bộ của Lầu Năm Góc đã phác thảo hàng loạt phương án để Mỹ trừng phạt các đồng minh NATO mà Washington cho rằng không hỗ trợ đầy đủ trong chiến dịch quân sự chống Iran, trong đó có đề xuất đình chỉ vai trò của Tây Ban Nha trong liên minh và xem xét lại lập trường của Mỹ đối với chủ quyền của Anh tại quần đảo Falkland, theo một quan chức Mỹ tiết lộ với Reuters.
Tổng thống Mỹ Donald Trump phát biểu trong cuộc họp báo sau Hội nghị thượng đỉnh NATO ở La Haye, Hà Lan. Ảnh: THX/TTXVN
Theo nguồn tin này, các phương án chính sách được nêu trong một bản ghi chú thể hiện sự thất vọng của Washington trước việc một số đồng minh bị cho là do dự hoặc từ chối cấp quyền tiếp cận, triển khai căn cứ và bay qua không phận (ABO) cho Mỹ trong cuộc chiến với Iran, và email nhấn mạnh rằng ABO là “mức tối thiểu tuyệt đối” trong khuôn khổ NATO, đồng thời các đề xuất này đang được thảo luận ở cấp cao trong Lầu Năm Góc.
Một trong các phương án được đề cập là loại các quốc gia “gây khó khăn” khỏi những vị trí quan trọng hoặc có tính biểu tượng trong NATO, tuy nhiên khi được hỏi về khả năng đình chỉ tư cách thành viên, một quan chức NATO khẳng định Hiệp ước sáng lập của liên minh không có điều khoản nào cho phép đình chỉ thành viên.
Tổng thống Donald Trump trước đó đã chỉ trích gay gắt các đồng minh NATO vì không điều tàu hải quân tham gia chiến dịch mở lại tuyến vận tải tại Eo biển Hormuz, nơi bị đóng cửa sau khi chiến sự bùng phát từ ngày 28/2, đồng thời ông cũng để ngỏ khả năng Mỹ rút khỏi NATO, nói với Reuters rằng “Nếu là bạn, bạn sẽ không làm vậy sao?”.
Dù vậy, email nội bộ không đề xuất việc Mỹ rời NATO hay đóng cửa các căn cứ quân sự tại châu Âu, dù quan chức này từ chối tiết lộ liệu kế hoạch có bao gồm việc cắt giảm lực lượng Mỹ tại châu Âu hay không.
Phát ngôn viên Lầu Năm Góc Kingsley Wilson nhấn mạnh rằng, chính quyền của ông Trump đang tìm kiếm các lựa chọn “đáng tin cậy” để buộc đồng minh phải chia sẻ gánh nặng nhiều hơn, khẳng định NATO “không thể là con đường một chiều” khi Mỹ đã làm quá nhiều nhưng các đối tác lại không đáp ứng kỳ vọng.
Cuộc chiến Mỹ - Israel với Iran đã làm dấy lên nghi ngờ sâu sắc về tương lai của liên minh quân sự 76 năm tuổi này, đồng thời làm gia tăng lo ngại rằng Washington có thể không bảo vệ các đồng minh châu Âu nếu họ bị tấn công, theo nhận định của nhiều nhà phân tích và nhà ngoại giao.
Anh, Pháp và một số quốc gia châu Âu cho rằng việc tham gia phong tỏa hải quân cùng Mỹ đồng nghĩa với việc trực tiếp bước vào chiến tranh, nhưng họ sẵn sàng hỗ trợ đảm bảo lưu thông tại Hormuz sau khi đạt được lệnh ngừng bắn bền vững hoặc khi xung đột kết thúc.
Chính quyền Trump đặc biệt không hài lòng với Tây Ban Nha, quốc gia không chỉ từ chối tăng chi tiêu quốc phòng lên mức 5% GDP mà còn bị cho là không hỗ trợ đầy đủ trong chiến dịch Iran, dù Mỹ hiện duy trì hai căn cứ quân sự quan trọng tại nước này là Rota và Morón.
Theo email, việc đình chỉ Tây Ban Nha khỏi liên minh có thể không ảnh hưởng lớn về mặt quân sự nhưng sẽ mang ý nghĩa biểu tượng mạnh mẽ, nhằm gửi thông điệp cứng rắn tới các đồng minh châu Âu và “giảm cảm giác được hưởng quyền lợi mà không phải đóng góp tương xứng”.
Thủ tướng Tây Ban Nha Pedro Sánchez phản ứng thận trọng, cho biết Madrid chỉ dựa trên các tài liệu chính thức của chính phủ Mỹ và khẳng định Tây Ban Nha vẫn là “đối tác trung thành” của NATO.
Giới chuyên gia cảnh báo rằng, ngay cả khi không thể thực thi về mặt pháp lý, việc công khai đe dọa đình chỉ một thành viên như Tây Ban Nha vẫn có thể gây tổn hại nghiêm trọng tới niềm tin trong liên minh, với Sven Biscop nhận định rằng nhiều lãnh đạo châu Âu đã không còn tin Mỹ sẽ luôn hỗ trợ họ trong mọi cuộc khủng hoảng.
Ngoài ra, bản ghi nhớ còn đề cập đến khả năng Mỹ xem xét lại lập trường ngoại giao đối với các “tàn dư đế quốc” của châu Âu như Quần đảo Falkland, nơi Anh kiểm soát nhưng Argentina vẫn tuyên bố chủ quyền, một động thái có thể làm rung chuyển quan hệ xuyên Đại Tây Dương.
Quan hệ Mỹ - Anh cũng trở nên căng thẳng khi ông Trump nhiều lần công kích Thủ tướng Keir Starmer vì không tham gia chiến tranh Iran, thậm chí gọi ông là “hèn nhát” và so sánh không phải là Winston Churchill, đồng thời chê bai tàu sân bay Anh là “đồ chơi”.
Ban đầu, Anh từ chối cho phép Mỹ sử dụng hai căn cứ trên lãnh thổ nước này để tấn công Iran, nhưng sau đó đã đồng ý hỗ trợ các nhiệm vụ phòng thủ nhằm bảo vệ công dân trong khu vực trước các đòn đáp trả của Tehran.
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth cũng thừa nhận cuộc chiến với Iran đã “phơi bày nhiều vấn đề”, nhấn mạnh rằng dù tên lửa tầm xa của Iran không thể vươn tới Mỹ nhưng hoàn toàn có thể đe dọa châu Âu, và cảnh báo rằng một liên minh mà các thành viên không sẵn sàng hỗ trợ lẫn nhau khi cần thiết thì “khó có thể gọi là liên minh thực sự”.
Trong cuộc gặp với các lãnh đạo Pakistan ngày 25/5, Ngoại tươngr Iran Araghchi đã nêu rõ lập trường nguyên tắc của Iran về những diễn biến mới nhất liên quan đến lệnh ngừng bắn và việc chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh.
Tàu Iran tuần tra trên eo biển Hormuz. Ảnh: Tasnim.
Ngoại trưởng Iran gặp các quan chức Pakistan
Theo các quan chức Pakistan và truyền thông nhà nước Iran, Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi và Thủ tướng Pakistan Shehbaz Sharif đã bắt đầu các cuộc đàm phán tại Islamabad, trong khi các quan chức Mỹ cũng đến Pakistan hôm nay để đàm phán.
Hãng thông tấn nhà nước Iran (IRNA) đưa tin rằng cả hai bên đã “trao đổi quan điểm về quan hệ Iran-Pakistan” và “tăng cường hợp tác khu vực, đặc biệt là các nỗ lực ngoại giao đang diễn ra”.
Ông Araqchi đã nêu rõ lập trường nguyên tắc của Iran về những diễn biến mới nhất liên quan đến lệnh ngừng bắn và việc chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh.
Theo hãng thông tấn IRNA, Ngoại trưởng Iran cũng cảm ơn Pakistan vì đã ủng hộ “người dân Palestine bị áp bức” và “những nỗ lực đặc biệt để thực hiện thỏa thuận ngừng bắn liên quan đến Lebanon”.
Ông Araghchi đã nói chuyện với các nhà lãnh đạo Pakistan ít nhất hai lần kể từ khi ông đến thủ đô hôm thứ Sáu.
Trước đó cùng ngày, ông Araghchi đã có cuộc gặp riêng với Tư lệnh quân đội Pakistan - Thống chế Asim Munir, và nhấn mạnh những “nỗ lực đáng khen ngợi” của các bộ trưởng chính phủ trong việc ngăn chặn chiến tranh.
Bộ Quốc phòng Iran: Mỹ đang tìm cách thoát khỏi vũng lầy chiến tranh
Phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Cộng hòa Hồi giáo Iran Reza Tala'iniq cho biết Mỹ đang tìm kiếm một giải pháp văn minh để chấm dứt cuộc xung đột với Iran.
Hãng thông tấn ISNA dẫn lời ông nói : "Ngày nay, sức mạnh quân sự của chúng ta đang chiếm ưu thế, vì vậy kẻ thù đang tìm cách giữ thể diện và thoát khỏi vũng lầy chiến tranh mà họ đang mắc kẹt."
Iran xem xét kế hoạch quản lý chiến lược eo biển Hormuz
Ông Fadahossein Maleki - thành viên của Ủy ban An ninh Quốc gia và Chính sách Đối ngoại của Quốc hội Iran nói với hãng thông tấn Tasnim hôm thứ Bảy rằng việc xem xét lại kế hoạch quản lý chiến lược eo biển Hormuz hiện đang nằm trong chương trình nghị sự của ủy ban, đồng thời lưu ý rằng một số điều khoản của kế hoạch đã được thông qua.
Ông Maleki lưu ý rằng đề xuất này bao gồm 12 điều khoản, và cho biết các nội dung còn lại của kế hoạch sẽ được xem xét trong các phiên họp sắp tới để ủy ban có thể chuẩn bị báo cáo cuối cùng.
Vị nghị sĩ cho biết việc tổ chức luồng tàu thuyền đi qua eo biển Hormuz là ưu tiên hàng đầu của Quốc hội và các cơ quan liên quan, và các quyết định về vấn đề này sẽ do Iran đưa ra.
Nhấn mạnh sự cần thiết phải điều tiết giao thông hàng hải trên tuyến đường thủy chiến lược này, ông lưu ý rằng, theo kế hoạch, phí sẽ được áp dụng đối với các tàu thuyền, tương tự như các biện pháp được thực hiện ở nhiều tuyến đường thủy quốc tế khác.
Iran mới đây đã công bố kế hoạch áp phí đối với các tàu thuyền đi qua eo biển Hormuz, với lý do cần thiết để bù đắp chi phí an ninh ngày càng tăng. Các nhà lập pháp Iran cho biết mức phí sẽ khác nhau tùy thuộc vào loại và khối lượng hàng hóa cũng như các rủi ro liên quan.
Theo dữ liệu theo dõi, chỉ có một số ít tàu thuyền dường như đã đi qua tuyến đường thủy quan trọng này cho đến nay.
Dữ liệu từ MarineTraffic, một nhà cung cấp thông tin tình báo hàng hải, cho thấy một tàu chở sản phẩm dầu mỏ tên là Oceanjet, thuộc sở hữu của một công ty Ấn Độ, và một tàu chở dầu và hóa chất tên là Lumina Ocean đã đi qua tuyến đường thủy này trong những giờ gần đây. Một du thuyền mang cờ Nga cũng đã đi qua eo biển này.
Dữ liệu vận chuyển đôi khi có thể có những bất thường do gián đoạn tín hiệu và giả mạo tín hiệu – việc truyền tín hiệu sai để đánh lừa hệ thống theo dõi.
Thổ Nhĩ Kỳ: Các bất đồng có thể giải quyết trong vòng đàm phán tiếp theo
Bộ trưởng Ngoại giao Thổ Nhĩ Kỳ cho biết ông tin rằng những điểm bất đồng chính liên quan đến vấn đề hạt nhân có thể được giải quyết trong vòng đàm phán hòa bình tiếp theo giữa Mỹ và Iran.
Ông Hakan Fidan cho biết Thổ Nhĩ Kỳ đã liên lạc gần như hàng ngày với các bên liên quan và tái khẳng định sự ủng hộ của Ankara đối với thỏa thuận ngừng bắn, ban đầu được ấn định trong hai tuần và nay đã được gia hạn.
Phát biểu tại London hôm thứ Sáu, trước thềm khả năng nối lại đàm phán, ông Fidan nói: "Tôi nghĩ rằng một vài vấn đề đang bế tắc, đặc biệt là trong các vấn đề hạt nhân, có thể được giải quyết".
Ông nói thêm rằng, “nếu điều này xảy ra, dĩ nhiên, vấn đề liên quan đến eo biển Hormuz sẽ được giải quyết”.
Ngoại trưởng Iran sẽ thăm Nga
Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi đã bắt đầu chuyến công du nước ngoài, trong đó, ngoài việc thăm các nước trung gian quan trọng như Pakistan và Oman, ông cũng sẽ đến Nga, nhấn mạnh mối quan hệ đối tác lâu dài giữa hai nước.
Nga vẫn luôn là đồng minh ngoại giao quan trọng đối với Iran trong suốt cuộc xung đột với Mỹ.
Điện Kremlin đã nhiều lần đề nghị tiếp nhận uranium làm giàu của Iran, với ý định lưu trữ hoặc tái chế nó trên lãnh thổ Nga.
Ngoài vấn đề uranium, Iran và Nga đã ký một hiệp ước 20 năm vào tháng 1/2025, củng cố quan hệ đối tác kinh tế, quân sự và chính trị giữa hai nước. Nga coi các cuộc tấn công của Mỹ vào Iran là "hành động gây hấn vô cớ", nhưng điều quan trọng là thỏa thuận được Tehran và Moscow ký kết không bao gồm một hiệp ước phòng thủ chung.
Hôm qua, Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov cho biết ông "đánh giá cao" những nỗ lực hòa giải của Islamabad giữa Iran và Mỹ trong cuộc điện đàm với người đồng cấp Pakistan Mohammad Ishaq Dar, đồng thời bày tỏ "sự sẵn sàng đóng góp" của Moscow.
Vào tháng 3, CNN đưa tin rằng Nga đang cung cấp cho Iran thông tin tình báo về vị trí và hoạt động của quân đội, tàu chiến và máy bay Mỹ, theo nhiều nguồn tin thân cận với các báo cáo tình báo của Mỹ về vấn đề này, đây là dấu hiệu đầu tiên cho thấy Moscow muốn can thiệp vào cuộc chiến.
Chuyến đi sắp tới của ông Araghchi tới Moscow là dấu hiệu cho thấy Tehran sẽ tìm cách tham khảo ý kiến các đối tác của mình tại Điện Kremlin trong bối cảnh xung đột.
Sáng thứ Bảy, hàng chục người đã tập trung bên ngoài nhà riêng của đại sứ Mỹ tại Israel Mike Huckabee, mang theo các tấm biển với thông điệp nhắm vào Tổng thống Donald Trump, nói rằng "Đừng để bị lừa lần nữa" khi họ cáo buộc ông Netanyahu gây nguy hiểm cho mối quan hệ chiến lược Mỹ-Israel.
"Ông ta đã lừa các vị về Gaza và Iran" - một trong những tấm biển ghi như vậy.
Phát biểu tại cuộc biểu tình, Eran Etzion, cựu phó chủ tịch Hội đồng An ninh Quốc gia Israel, nói: “Chúng tôi ở đây để làm gián đoạn buổi sáng thứ Bảy của các bạn với một thông điệp khẩn cấp gửi đến Tổng thống Trump - ông đang đặt cược vào sai người. Ông đang đặt cược vào một chính trị gia sắp hết thời. Ông đang đặt cược vào một chính trị gia đã hết quyền lực”.
Mặc dù người dân Israel ủng hộ mạnh mẽ cuộc chiến chung giữa Mỹ và Israel chống lại Iran khi nó bắt đầu, nhưng sự ủng hộ đó đã dần suy giảm. Một loạt cuộc thăm dò dư luận vào giữa tháng Tư cho thấy hầu hết người Israel không tin rằng Mỹ và Israel đã giành chiến thắng trong cuộc chiến chống lại Iran. Các cuộc biểu tình phản chiến, dù rất nhỏ vào đầu cuộc chiến với Iran, đã ngày càng gia tăng về quy mô.
Các chuyến bay quốc tế từ Tehran được nối lại
Lần đầu tiên kể từ khi cuộc xung đột giữa Iran với Mỹ và Israel bùng nổ vào cuối tháng Hai, các chuyến bay quốc tế từ Tehran đã được nối lại.
Các trang web theo dõi chuyến bay cho thấy có 4 chuyến bay khởi hành từ sân bay Imam Khomeini ở Tehran đến Istanbul vào sáng sớm thứ Bảy, tất cả đều do các hãng hàng không Iran khai thác.
"Nhờ nỗ lực của các hãng hàng không nội địa, nhóm hành khách đầu tiên đã được đưa đến các điểm đến Medina, Muscat và Istanbul" - hãng thông tấn bán chính thức Mehr đưa tin, đồng thời dự đoán sẽ có sự mở rộng các chuyến bay trong những ngày tới.
Tuy nhiên, dữ liệu chuyến bay cho thấy không có chuyến bay nào đến Medina, Ả Rập Xê Út, cũng như Muscat, Oman.
Vụ trộm tinh vi 15 máy bay không người lái của cảnh sát ở New Jersey làm dấy lên lo ngại về khủng bố sinh học.
Vụ trộm 15 máy bay không người lái dùng trong nông nghiệp ở New Jersey đã làm dấy lên mối lo ngại trong nội bộ FBI.
Hãng tin an ninh quốc gia High Side đưa tin rằng 15 máy bay không người lái nông nghiệp Ceres Air C31 đã bị đánh cắp từ một kho hàng ở New Jersey vào tháng trước.
Theo báo cáo, một người đàn ông giả danh tài xế giao hàng đã lừa công ty logistics CAC International lấy được toàn bộ đội máy bay không người lái của mình.
Những chiếc máy bay không người lái này có khả năng phun tới 40 gallon hóa chất dạng lỏng như thuốc trừ sâu và phân bón, nhưng các nhà chức trách lo ngại rằng chúng có thể được sử dụng để phát tán vũ khí hóa học hoặc sinh học.
Mười lăm máy bay không người lái phun thuốc công nghiệp đã biến mất khỏi một cơ sở ở New Jersey vào tháng trước trong một vụ trộm được các nhà điều tra gọi là tinh vi và có tổ chức. Đây không phải là những chiếc máy bay bốn cánh quạt thông thường mà là những cỗ máy nông nghiệp chính xác có khả năng phun 40 gallon chất lỏng trên diện tích 30 mẫu Anh mỗi chuyến bay, tất cả đều được điều khiển bằng hệ thống lái tự động GPS.
Các nhà điều tra liên bang đã mở cuộc điều tra trong bối cảnh lo ngại về khủng bố sinh học, coi vụ trộm này không chỉ đơn thuần là mất mát thiết bị đắt tiền. Mỗi máy bay không người lái hoạt động như một hệ thống vận chuyển tiềm năng, có thể phát tán các vật liệu nguy hiểm trên diện rộng mà không cần người điều khiển gặp rủi ro.
Cựu đặc vụ FBI Steve Lazarus cảnh báo về những hậu quả nghiêm trọng và gọi đây là một tình huống đáng lo ngại, nhấn mạnh rằng đây là những máy phun thuốc công nghiệp được thiết kế cho nông nghiệp chính xác, chứ không phải để bay lượn giải trí cuối tuần. Sự phối hợp tinh vi cần thiết cho thấy đây là những tên trộm chuyên nghiệp, những người hiểu rõ khả năng và giá trị của thiết bị.
Vụ trộm này làm sống lại những lo ngại sau vụ ngày 11 tháng 9 về việc máy bay nông nghiệp bị vũ khí hóa để thực hiện các cuộc tấn công hóa học hoặc sinh học. Mối đe dọa ngày nay tăng lên theo cấp số nhân—thay vì tuyển dụng và huấn luyện phi công cho từng máy bay riêng lẻ, những kẻ xấu có thể triển khai hàng loạt máy bay không người lái được lập trình sẵn cùng một lúc.
Bản báo cáo này được đưa ra một tháng sau khi trang The Gateway Pundit đưa tin rằng trang Facebook của Căn cứ Fort Campbell thuộc Quân đội Hoa Kỳ tiết lộ bốn hệ thống máy bay không người lái Skydio X10D đã bị đánh cắp từ tòa nhà Tiểu đoàn Công binh Sư đoàn 326.
Một phát ngôn viên tại Fort Campbell đã thông báo rằng các nghi phạm đứng sau vụ trộm máy bay không người lái đã được xác định, nhưng không tiết lộ tên của họ.
Các mối đe dọa từ máy bay không người lái được cho là đã gia tăng kể từ khi Hoa Kỳ bắt đầu các hoạt động quân sự ở Iran.
Trước đó, ABC News đã đưa tin rằng FBI đã cảnh báo các sở cảnh sát California rằng Iran có thể sẽ tấn công bờ biển phía Tây bằng máy bay không người lái.
Tuy nhiên, Nhà Trắng đã bác bỏ những tuyên bố của ABC News.
Các cuộc tấn công của các đơn vị máy bay không người lái Ukraine đã khiến Nga thiệt hại khoảng 25,5 tỷ USD, bao gồm cả tổn thất trực tiếp và gián tiếp, theo ước tính của Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang Ukraine Oleksandr Syrskyi.
Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang Ukraine, Oleksandr Syrskyi. Ảnh: Syrskyi trên Telegram.
Ông Syrskyi cho biết, lực lượng Ukraine đang tiếp tục tiến hành các đòn tấn công nhằm vào những thành phần then chốt của tổ hợp công nghiệp – quân sự và cơ sở hạ tầng của Nga, đồng thời điều chỉnh chiến thuật để bù đắp cho lợi thế về quân số của Moscow trên chiến trường.
Tổn thất do UAV gây ra cho Nga lên tới 25,5 tỷ USD
Theo ông Syrskyi, Ukraine đang áp dụng cách tiếp cận chiến tranh dựa trên “chất lượng”, buộc các đơn vị Nga rơi vào những điều kiện bất lợi hơn và liên tục làm chậm các kế hoạch tấn công đã đề ra.
Theo Tổng tư lệnh Ukraine, con số 25,5 tỷ USD phản ánh không chỉ việc phá hủy trực tiếp các tài sản quân sự của Nga mà còn bao gồm những thiệt hại kinh tế rộng hơn liên quan đến các cuộc tấn công nhằm vào cơ sở hạ tầng phục vụ nỗ lực chiến tranh. Ông không nêu rõ khung thời gian cụ thể cho ước tính này.
Nhưng ông Syrskyi cũng cho biết trong 4 tháng qua, các đơn vị máy bay không người lái của Ukraine đã gây ra mức tổn thất nhân lực cho Nga cao hơn số lượng binh sĩ mà Moscow có thể bổ sung thông qua huy động trong cùng khoảng thời gian.
Ông đưa ra tuyên bố này sau khi gặp các đại diện quân sự cấp cao từ NATO và EU tại Kiev vào hôm 23–24/4, trong đó có Chủ tịch Ủy ban Quân sự NATO, Đô đốc Giuseppe Cavo Dragone và Chủ tịch Ủy ban Quân sự EU, Tướng Sean Clancy.
Ông nói với các quan chức NATO và EU rằng Nga vẫn tiếp tục các hoạt động tấn công bất chấp những tổn thất đáng kể về nhân lực, vũ khí và trang thiết bị, đồng thời nhấn mạnh phòng không vẫn là ưu tiên hàng đầu của Ukraine do các cuộc tấn công bằng tên lửa và máy bay không người lái vẫn đang diễn ra liên tục.
EU đã huấn luyện hơn 90.000 binh sĩ Ukraine
Trong cuộc gặp, ông Syrskyi cũng nhấn mạnh vai trò của phái bộ huấn luyện của EU, lực lượng đã đào tạo hơn 90.000 binh sĩ Ukraine, đồng thời kêu gọi tiếp tục mở rộng các chương trình huấn luyện với sự tham gia của các huấn luyện viên quốc tế.
Ông mô tả việc các quan chức quân sự cấp cao của NATO và EU đồng thời tới Kiev là mang tính biểu tượng, cho thấy sự ủng hộ quốc tế ngày càng được củng cố đối với nỗ lực phòng thủ của Ukraine trong bối cảnh cuộc chiến vẫn tiếp diễn.
Chủ tịch Ủy ban Quân sự Thượng viện nhấn mạnh Roger Wicker cho rằng Tổng thống Donald Trump cần chấm dứt lệnh ngừng bắn với Iran và tiếp tục ném bom nước này, điều này có thể làm trầm trọng thêm tình hình căng thẳng trong khi chính quyền đang nỗ lực hướng tới một thỏa thuận hòa bình.
Thượng nghị sĩ Roger Wicker, đảng Cộng hòa, bang Mississippi, Chủ tịch Ủy ban Quân vụ Thượng viện. Ảnh: AP.
Thượng nghị sĩ Cộng hòa Roger Wicker - Chủ tịch Ủy ban Quân vụ Thượng viện Mỹ, đã bày tỏ sự thất vọng với các cuộc đàm phán giữa Tehran và Washington, cho rằng Tổng thống Donald Trump không nên tin tưởng các nhà lãnh đạo Iran.
“Tổng tư lệnh của chúng ta nên chỉ đạo các tướng lĩnh quân sự tài giỏi của mình hoàn thành việc phá hủy năng lực quân sự thông thường của Iran và loại bỏ bất kỳ tàn dư nào của chương trình hạt nhân của họ” - ông viết trong một bài đăng trên mạng xã hội ngày 24/4. “Đây là cách duy nhất để đảm bảo sự ổn định lâu dài trong khu vực”.
Hôm thứ Ba, ông Trump tuyên bố sẽ gia hạn vô thời hạn lệnh ngừng bắn 2 tuần với Iran để tạo điều kiện cho các cuộc đàm phán về một thỏa thuận hòa bình. Tuy nhiên, lực lượng hải quân Mỹ vẫn tiếp tục phong tỏa các tàu thuyền đi đến và đi từ Iran ở eo biển Hormuz, và một tàu sân bay thứ ba đã đến khu vực này trong tuần này.
Thư ký báo chí Nhà Trắng Karoline Leavitt cho biết hôm thứ Sáu rằng đặc phái viên Steve Witkoff và Jared Kushner, con rể của tổng thống, sẽ đến Pakistan vào thứ Bảy để nối lại các cuộc đàm phán nhằm chấm dứt xung đột.
Nhưng Thượng nghị sĩ Wicker, với tư cách là lãnh đạo đảng Cộng hòa hàng đầu trong ủy ban quân sự quyền lực của Thượng viện, đã bày tỏ sự nghi ngờ về nỗ lực đó ngay cả trước khi nó bắt đầu. Ông đã nhiều lần bảo vệ quyết định tấn công Iran của tổng thống, gọi đó là vấn đề an ninh quốc gia.
Những bình luận của ông Wicker được đưa ra trong bối cảnh các thông điệp trái chiều từ chính quyền. Trong cuộc họp báo với các phóng viên sáng thứ Sáu, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth đã thay đổi lập trường, lúc thì tuyên bố chiến thắng ở Iran, lúc lại cam kết sẽ áp dụng “bạo lực tối đa” đối với nước này nếu tổng thống muốn nối lại các hành động thù địch.
“Sự kiên định của Tổng thống Trump là không thể lay chuyển, và sứ mệnh của ông ấy vô cùng rõ ràng” - ông Hegseth nói. “Tổng thống đã nhắc lại điều đó ngày hôm qua: chúng ta có thừa thời gian, và chúng ta không vội vàng đạt được thỏa thuận”.
Ông Wicker đã hứa sẽ tổ chức các phiên điều trần riêng biệt trong ủy ban của mình để thảo luận về nguyên nhân của cuộc chiến tranh Iran và tác động của nó đối với khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội Mỹ. Các quan chức vẫn chưa ấn định ngày cho sự kiện này.
Thời hạn quyền lực chiến tranh
Một số chuyên gia quốc phòng đã bày tỏ lo ngại về tốc độ tiêu hao vũ khí và đạn dược của lực lượng Mỹ trong cuộc xung đột quân sự kéo dài gần 2 tháng.
Theo tờ New York Times, Mỹ đã sử dụng hết khoảng 1.100 tên lửa hành trình tàng hình tầm xa và hơn 1.000 tên lửa hành trình Tomahawk, nhiều hơn gấp nhiều lần so với số lượng tên lửa mà nước này mua hàng năm.
Một số nhà lập pháp đảng Cộng hòa hy vọng cuộc xung đột sẽ kết thúc trước khi đạt mốc 90 ngày, giới hạn do Đạo luật Quyền lực Chiến tranh năm 1973 quy định về quyền của tổng thống trong việc triển khai quân đội Mỹ tham chiến và rút quân mà không cần sự chấp thuận chính thức từ Quốc hội.
Một số thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa, bao gồm Susan Collins (Maine), John Curtis (Utah) và Thom Tillis (NC) cho rằng Quốc hội phải bỏ phiếu để cho phép tiếp tục hành động quân sự chống lại Iran sau thời hạn 60 đến 90 ngày được quy định trong Đạo luật Quyền lực Chiến tranh.
Luật này cho phép tổng thống có thêm 30 ngày sau mốc hai tháng để rút quân khỏi chiến trường.
Ukraine sẽ không gia nhập NATO. Moscow vẫn kiên quyết với lập trường này, Washington và Brussels cũng đồng tình, và dường như ngay cả Kiev cũng đã chấp nhận. Tuy vậy, phương Tây vẫn duy trì lộ trình đối đầu quân sự với Nga. Bài viết của RIA Novosti phân tích những toan tính của châu Âu.
Bộ trưởng Quốc phòng Đức Boris Pistorius trên xe tăng Leopard. Ảnh: AP.
Người Ukraine chiến đấu vì điều gì
“Đến năm 2030, chúng ta cần có khả năng nói với Vladimir Putin rằng ngay cả khi không có người Mỹ, ông ấy cũng không thể thắng một cuộc chiến với châu Âu. Chúng ta vẫn còn vài năm, nhờ vào lòng dũng cảm và máu của người Ukraine, những người đang ‘mua’ thời gian cho chúng ta. Chính vì vậy chúng ta tích cực ủng hộ họ” - Tổng tham mưu trưởng Bỉ Frédéric Vansina nói trong một cuộc phỏng vấn với Le Soir tuần trước.
Tại Ukraine, phát biểu này đã gây phẫn nộ. Nghị sĩ Verkhovna Rada Daniil Getmantsev cho rằng các chính trị gia châu Âu không có quyền quyết định quân đội Ukraine phải chiến đấu bao lâu.
“Ukraine và người dân Ukraine không phải là một nguồn tài nguyên. Không phải là công cụ để giải quyết các mục tiêu địa chính trị của ai đó. Càng không phải là ‘lá chắn sống’ để người khác tạm thời ẩn náu phía sau” - ông nói.
Phản ứng này khá bất ngờ, bởi Tổng thống Zelensky nhiều năm qua vẫn gọi Ukraine là “lá chắn của châu Âu”, thậm chí còn dùng cụm từ này trong thông điệp năm mới.
EU cũng chi tiền cho điều đó. Tháng HAI, Ngoại trưởng Ba Lan Radosław Sikorski ước tính châu Âu đã chi 200 tỷ euro để hỗ trợ Kiev. Tuần này, một khoản vay 90 tỷ euro tiếp tục được phê duyệt.
Chính quyền Kiev cũng trích cực chuyển một phần tổ hợp công nghiệp quốc phòng sang châu Âu. Bộ Quốc phòng Nga mới đây công bố danh sách các công ty Ukraine sản xuất vũ khí tại phương Tây, cũng như các doanh nghiệp cung cấp vũ khí cho quân đội Ukraine.
Ngoài ra, Kiev đã nhận được nguồn tài chính từ các chương trình quốc phòng thuần túy của châu Âu. Ví dụ, tháng Ba, Ba Lan hứa cấp 2 tỷ euro từ nguồn vay EU theo chương trình SAFE (Security Action for Europe). Đây là phần đầu của kế hoạch “Sẵn sàng 2030” của Ủy ban châu Âu, có dự định 800 tỷ euro chi tiêu quân sự.
Tuy nhiên, Kiev vẫn cho là chưa đủ. Ông Zelensky đề xuất thành lập một liên minh quân sự mới gồm các nước EU, Anh, Ukraine, Thổ Nhĩ Kỳ và Na Uy.
“Không có Ukraine và Thổ Nhĩ Kỳ, châu Âu sẽ không có một quân đội tương xứng với Nga. Với Ukraine, Thổ Nhĩ Kỳ, Na Uy và Anh, các bạn sẽ kiểm soát an ninh trên biển – không chỉ một vùng biển” - ông nói.
Yếu tố hạt nhân
Ngay cả không có quân đội Ukraine, EU vẫn theo đuổi con đường quân sự hóa, trong khi tâm lý chống Nga tiếp tục gia tăng.
Trong bối cảnh Tổng thống Mỹ Donald Trump chỉ trích NATO và đe dọa rút khỏi liên minh, các lãnh đạo châu Âu đang cân nhắc xây dựng “ô hạt nhân” độc lập với Mỹ.
Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã đề cập điều này từ một năm trước. Tháng 7/2025, Paris và Berlin ký Tuyên bố Northwood, thể hiện mong muốn phối hợp lực lượng hạt nhân.
Tại Hội nghị An ninh Munich, Thủ tướng Đức Friedrich Merz cho biết: “Tôi đã khởi động các cuộc đàm phán với Tổng thống Pháp về răn đe hạt nhân châu Âu”.
Anh, Hà Lan, Bỉ, Hy Lạp, Thụy Điển, Đan Mạch và Ba Lan đều ủng hộ.
Paris cũng có kế hoạch sớm tổ chức tập trận hạt nhân chung với Ba Lan trên bầu trời miền bắc nước này và khu vực Baltic. Theo Wirtualna Polska, các tiêm kích Rafale có khả năng mang đầu đạn hạt nhân sẽ diễn tập tấn công mục tiêu tại Nga và Belarus.
Danh sách các nước xem xét lại hạn chế liên quan đến vũ khí hủy diệt hàng loạt cũng đang mở rộng. Chẳng hạn, Phần Lan đề xuất sửa luật để cho phép đưa vũ khí hạt nhân vào nước này trong “các tình huống liên quan đến phòng thủ”.
Tăng cường quân sự quy ước
Châu Âu cũng không quên vũ khí thông thường. Tuần này, Bộ trưởng Quốc phòng Đức Boris Pistorius trình bày kế hoạch biến Bundeswehr thành lực lượng mạnh nhất châu lục.
Theo đó, quân số sẽ tăng từ 185.000 lên 260.000, còn lực lượng dự bị từ 60.000 lên 200.000.
Đồng thời, quân đội Đức sẽ được mở rộng về cấu trúc, trang bị các hệ thống vũ khí tiên tiến. Từ năm 2039, Bundeswehr sẽ tập trung vào năng lực chiến tranh tương lai.
Ngân sách cũng được nới rộng đáng kể. Năm ngoái, Quốc hội Đức cho phép chính phủ vay gần như không giới hạn cho quân đội, phòng thủ dân sự và hỗ trợ Ukraine. Tổng chi riêng cho mua sắm vũ khí lên tới 377 tỷ euro, nằm trong kế hoạch mua 320 loại vũ khí và trang bị mới.
Mức độ đe dọa chưa từng có
Châu Âu cũng chuẩn bị đối phó Nga trong không gian mạng. Giám đốc cơ quan tình báo AIVD của Hà Lan, Simone Smit, cho rằng Moskva đang tiến hành các cuộc tấn công mạng nhằm vào Amsterdam.
“Trong 80 năm tồn tại, chúng tôi chưa từng đối mặt với mức độ đe dọa như hiện nay, khi an ninh quốc gia chịu áp lực từ nhiều phía cùng lúc và kéo dài như vậy” - bà nói.
Theo bà, Điện Kremlin đang chuẩn bị cho một cuộc đối đầu lâu dài với phương Tây, và khả năng xung đột trực tiếp với Nga là hoàn toàn có thật.
Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk còn đi xa hơn khi cảnh báo trong một cuộc phỏng vấn với Financial Times rằng chiến tranh với Nga có thể không còn tính bằng năm mà bằng tháng.
Trong khi đó, Moscow cho rằng châu Âu đang tìm cách bù đắp sự suy yếu của NATO bằng việc xây dựng một bản sắc an ninh mới.
“Chúng tôi thấy sự trỗi dậy của chủ nghĩa quân phiệt ở châu Âu, mức độ thù địch đáng kể đối với Nga. Đây là biểu hiện trực tiếp của quá trình xây dựng quân sự nhằm vào Liên bang Nga. Một cuộc đối đầu toàn diện đang quay trở lại”- người phát ngôn Điện Kremlin Dmitry Peskov nói.
Moscow liên tục nhấn mạnh rằng Nga không có ý định tấn công các nước châu Âu, nhưng các chính trị gia EU thường xuyên sử dụng “mối đe dọa Nga” để đánh lạc hướng dư luận khỏi các vấn đề nội bộ. Tuy nhiên, hiện tại điều này ngày càng giống với sự chuẩn bị trực tiếp cho một cuộc chiến mà châu Âu có thể tự mình khởi xướng.
Hôm thứ Sáu, Tổng thống Trump đã sa thải nhiều nhà khoa học từng phục vụ trong Hội đồng Khoa học Quốc gia.
Theo tờ Washington Post, hiện chưa rõ có bao nhiêu nhà khoa học đã bị sa thải.
Các nhà khoa học trong Hội đồng Khoa học Quốc gia có nhiệm kỳ 6 năm.
Tờ Washington Post đưa tin :
Nhiều nhà khoa học thuộc một hội đồng độc lập được thành lập để hướng dẫn cơ quan tài trợ khoa học cơ bản quốc gia với ngân sách gần 9 tỷ đô la đã bị Tổng thống Donald Trump sa thải vào thứ Sáu.
Các thành viên của Hội đồng Khoa học Quốc gia, cơ quan giúp điều hành Quỹ Khoa học Quốc gia, đã bị sa thải trong một thông điệp từ Văn phòng Nhân sự Tổng thống nhằm cảm ơn sự phục vụ của họ, theo các ảnh chụp màn hình được chia sẻ với tờ Washington Post: “Thay mặt Tổng thống Donald J. Trump, tôi viết thư này để thông báo với quý vị rằng chức vụ thành viên Hội đồng Khoa học Quốc gia của quý vị bị chấm dứt, có hiệu lực ngay lập tức.”
Hội đồng Khoa học Quốc gia được thành lập năm 1950 để hướng dẫn việc quản trị của Quỹ Khoa học Quốc gia, trong một cấu trúc khác thường trong chính phủ liên bang, tương tự như cấu trúc hội đồng quản trị của một công ty trong khu vực tư nhân.
Nó giúp định hướng cho một cơ quan điều hành các trạm nghiên cứu Nam Cực, kính viễn vọng, đội tàu nghiên cứu và hỗ trợ nghiên cứu khoa học cơ bản trong các phòng thí nghiệm trên khắp Hoa Kỳ.
Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF) có lịch sử lâu dài trong việc hỗ trợ công nghệ và nghiên cứu, tạo động lực cho nhiều đổi mới mà thế giới đang dựa vào ngày nay. Cơ quan này đã giúp ứng dụng học ngôn ngữ Duolingo khởi đầu. Nghiên cứu của NSF cũng đã giúp phát triển công nghệ được sử dụng trong máy chụp cộng hưởng từ (MRI), điện thoại di động và phẫu thuật mắt LASIK.
Người phát ngôn lực lượng vũ trang Iran, Chuẩn tướng Ibrahim Zolfaghari, tuyên bố nước này đã chuẩn bị cho một đợt phóng tên lửa mà ông gọi là “lớn nhất trong lịch sử”, nhằm vào các vùng lãnh thổ đối địch và một số quốc gia Ả Rập đồng minh của Mỹ, Saba đưa tin.
Người phát ngôn lực lượng vũ trang Iran, Chuẩn tướng Ibrahim Zolfaghari. Ảnh Saba
Ông Zolfaghari cảnh báo vào hôm 24/4 rằng, Iran sẽ triển khai “loạt tấn công tên lửa lớn nhất từ trước đến nay” nếu phát hiện bất kỳ mối đe dọa nào sắp xảy ra, đồng thời nhấn mạnh Tehran đang ở trạng thái sẵn sàng đáp trả ngay lập tức trước mọi dấu hiệu tấn công.
Tuyên bố cứng rắn này được đưa ra trong bối cảnh căng thẳng khu vực leo thang sau một giai đoạn xung đột kéo dài khoảng 40 ngày, khi Iran cho biết họ đã đáp trả bằng chiến dịch quân sự mang tên “Lời hứa chân thật 4”, nhắm vào các mục tiêu của Israel và Mỹ trong khu vực.
Không chỉ dừng ở lời cảnh báo, năng lực thực tế của Iran cũng đang khiến giới quan sát lo ngại. Theo các dữ liệu quân sự, nước này sở hữu một trong những kho tên lửa lớn nhất Trung Đông với hơn 3.000 tên lửa các loại, được thiết kế như công cụ răn đe và đáp trả nhanh trước các đối thủ như Mỹ, Israel hay Ả Rập Saudi.
Trong các diễn biến gần đây, Iran đã nhiều lần chứng minh khả năng triển khai hỏa lực quy mô lớn. Chỉ riêng đầu năm 2026, Tehran đã phóng hàng trăm tên lửa và hàng nghìn máy bay không người lái vào các mục tiêu ở Israel và khu vực Vùng Vịnh, cho thấy mức độ sẵn sàng và cường độ tác chiến cao chưa từng có.
Đáng chú ý, bất chấp các đòn không kích quy mô lớn từ Mỹ và Israel nhằm làm suy yếu năng lực quân sự, Iran vẫn nhanh chóng khôi phục và thậm chí tăng tốc tái trang bị hệ thống phóng tên lửa và UAV, cho thấy khả năng phục hồi đáng kể của bộ máy quân sự nước này.
Giới phân tích nhận định, chiến lược của Iran dựa trên học thuyết “răn đe bằng trả đũa”, trong đó tên lửa đóng vai trò trung tâm để bù đắp cho hạn chế về không quân do các lệnh trừng phạt kéo dài nhiều thập kỷ.
Nếu tuyên bố của Tehran trở thành hiện thực, một “cơn mưa tên lửa” quy mô chưa từng có có thể làm rung chuyển toàn bộ Trung Đông, đẩy khu vực vào vòng xoáy leo thang mới với nguy cơ lan rộng thành xung đột khu vực toàn diện.
Theo tạp chí Military Watch , Phần Lan được cho là đang tiến gần hơn đến một thỏa thuận với Mỹ về việc sử dụng chung vũ khí hạt nhân được trang bị trên các máy bay chiến đấu F-35 thế hệ thứ năm gần biên giới Nga . Nước này dự kiến sẽ nhận được tổng cộng 64 máy bay loại này.
Máy bay F-35A của Mỹ mang 2 quả bom B61-12. Ảnh: Pravda.
F-35 với vai trò là nền tảng vận chuyển vũ khí hạt nhân.
F-35 được xem là nền tảng tối ưu để vận chuyển vũ khí hạt nhân. Khoang chứa vũ khí bên trong của nó có khả năng mang hai quả bom hạt nhân B61, trong khi các tính năng tàng hình tiên tiến và khả năng tác chiến điện tử giúp tăng đáng kể khả năng sống sót trong các nhiệm vụ tấn công tầm xa.
Theo đánh giá của ấn phẩm này, một quả bom hạt nhân B61-13 duy nhất có thể gây ra thương vong thảm khốc nếu được sử dụng chống lại một thành phố lớn, cho thấy tiềm năng hủy diệt liên quan đến các hệ thống như vậy.
Báo cáo cũng lưu ý rằng máy bay chiến đấu Su-57 thế hệ thứ năm của Nga có khả năng mang vũ khí hạt nhân, mặc dù việc triển khai chúng ở các khu vực giáp biên giới Phần Lan vẫn chưa được thực hiện đầy đủ.
Phần Lan xem xét những thay đổi pháp lý
Trước đó, Bộ Quốc phòng Phần Lan đã công bố đề xuất cho phép nhập khẩu, vận chuyển và lưu trữ vũ khí hạt nhân như một phần của việc tăng cường năng lực phòng thủ quốc gia và tập thể.
Chính phủ đề xuất loại bỏ các rào cản pháp lý ngăn cản việc nhập khẩu, vận chuyển hoặc lưu trữ các thiết bị hạt nhân tại Phần Lan nhằm đảm bảo quốc phòng, an ninh tập thể của NATO và hợp tác quốc phòng.
Bộ trưởng Quốc phòng Phần Lan Antti Häkkänen tuyên bố rằng sáng kiến này nhằm mục đích tăng cường an ninh quốc gia trong môi trường tác chiến ngày càng khó lường và nâng cao ngưỡng sử dụng vũ lực chống lại Phần Lan và NATO.
Bộ trưởng Häkkänen lần đầu tiên đề xuất sáng kiến này vào đầu tháng trước. Tuần trước, chính quyền Helsinki đã công bố một báo cáo trong đó họ khẳng định rằng nước cộng hòa này sẽ không triển khai vũ khí hủy diệt hàng loạt trong thời bình và sẽ không trở thành một cường quốc hạt nhân.
Phản hồi của Điện Kremlin
Bình luận về những diễn biến này, Người phát ngôn Điện Kremlin Dmitry Peskov gọi đó là dấu hiệu rõ ràng của sự leo thang đối đầu.
"Đây là sự đối đầu. Nó cần được hiểu chính xác như vậy - một biểu hiện tập trung của sự đối đầu" - ông Peskov tuyên bố.
Trước đó ông Peskov cảnh báo rằng việc triển khai các loại vũ khí như vậy sẽ gây ra mối đe dọa cho Nga và Moscow sẽ có các biện pháp trả đũa.
Đại sứ quán Nga tại Helsinki cho biết nước này sẽ tính đến "ngay cả khả năng lý thuyết" về việc vũ khí hạt nhân xuất hiện trên lãnh thổ Phần Lan trong kế hoạch quân sự của mình.
"Không cần phải là chuyên gia quân sự mới hiểu rằng ngay cả khả năng lý thuyết về việc vũ khí hạt nhân xuất hiện trên lãnh thổ Phần Lan cũng sẽ được tính đến trong kế hoạch quân sự của Nga. Chúng tôi tin tưởng rằng Helsinki nhận thức được điều này," phái đoàn ngoại giao nhấn mạnh.
Đại sứ quán cho biết thêm rằng các sửa đổi do chính quyền Phần Lan đề xuất sẽ loại bỏ mọi rào cản đối với việc nhập khẩu vũ khí hạt nhân vào nước này bất cứ lúc nào.
Xu hướng tương tự ở Châu ÂU
Các chuyên gia lưu ý rằng những xu hướng tương tự có thể được quan sát thấy ở những nơi khác tại châu Âu. Nhà phân tích Alexander Kamkin trước đây đã gợi ý rằng Ba Lan, quốc gia đang lên kế hoạch tập trận không quân chung với Pháp bao gồm các cuộc tấn công mô phỏng vào các mục tiêu của Nga, cũng đang tìm cách tiếp cận năng lực hạt nhân.
Gần đây, các nước châu Âu đã tăng cường tuyên bố về vấn đề này. Đầu tháng 3, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron tuyên bố Paris đang bước vào giai đoạn "răn đe hạt nhân tiên tiến". Theo học thuyết mới, nước này sẽ tăng số lượng đầu đạn hạt nhân, và các đồng minh sẽ có thể tham gia các cuộc tập trận chung. Theo các nguồn tin, các nước này bao gồm Anh, Đức, Ba Lan, Hà Lan, Bỉ , Hy Lạp, Thụy Điển và Đan Mạch.
Điện Kremlin xác nhận rằng Putin đang cân nhắc việc đến Miami dự Hội nghị thượng đỉnh G20 vào tháng 12.
Hội nghị thượng đỉnh G20 tiếp theo có thể sẽ mang ý nghĩa lớn hơn.
Mặc dù các cuộc chiến ở Ukraine và Iran vẫn chưa được giải quyết, nhưng bối cảnh địa chính trị vẫn còn chỗ cho những diễn biến khác.
Trong khi thế giới đang chìm trong chiến tranh, công tác xây dựng lại quan hệ ngoại giao và thương mại giữa hai siêu cường hạt nhân: Hoa Kỳ và Nga vẫn đang tiếp diễn.
Hôm qua (24), Điện Kremlin thông báo rằng Tổng thống Nga Vladimir Putin có thể sẽ tham dự hội nghị thượng đỉnh G20 tại Miami vào tháng 12.
Điều này diễn ra sau khi Tổng thống Mỹ Donald J. Trump công khai tuyên bố rằng sự hiện diện của Putin sẽ rất hữu ích, và cũng cho rằng "việc loại bỏ Nga khỏi G8 là một sai lầm".
Trump thinking about inviting Putin to G20 Summit in Miami
“Hoa Kỳ đã mời Nga tham dự cuộc họp thường niên của Nhóm 20 nước (G20) do Washington tổ chức năm nay tại Miami, và Moscow đã chấp nhận lời mời”, một quan chức Mỹ am hiểu vấn đề cho biết hôm thứ Sáu.
Ông Putin đã không tham dự hội nghị thượng đỉnh G20 kể từ năm 2019 do đại dịch COVID và sau đó là cuộc xâm lược Ukraine năm 2022 của Nga, sự kiện đã gây ra cuộc khủng hoảng lớn nhất trong quan hệ giữa Moscow và phương Tây kể từ thời kỳ đỉnh điểm của Chiến tranh Lạnh.
JUST IN: 🇷🇺🇺🇸 Russia says President Putin may travel to Miami for G20 summit. pic.twitter.com/Xv6SpNXo36
“‘Tổng thống Putin có thể đến Miami với tư cách là thành viên của G20, hoặc ông ấy có thể không đến, hoặc một đại diện khác của Nga có thể đến’, người phát ngôn Điện Kremlin Dmitry Peskov nói với phóng viên truyền hình nhà nước Pavel Zarubin.”
🇷🇺 The Kremlin says Putin "may or may not" show up to the G20 in Miami this December. But Russia will be represented either way.
Trump invited him, saying his presence “would be helpful.”
Putin hasn't attended a G20 in person since Japan in 2019. The ICC issued an arrest… pic.twitter.com/nPnVPiAUYw
Ông Peskov cho biết, ngay cả khi Putin quyết định không tham dự, Nga vẫn sẽ được "đại diện một cách thích đáng" tại hội nghị thượng đỉnh.
“Năm ngoái, Điện Kremlin cho biết họ đồng ý với Trump rằng việc loại Nga khỏi Nhóm G8 năm 2014 là một sai lầm, nhưng Nhóm G7 không còn quan trọng đối với Nga và trông 'khá vô dụng'.”
Trong nhiều năm qua, số tài sản khoảng 100 tỷ USD của Iran bị “đóng băng" do lệnh trừng phạt của Mỹ đã trở thành một trong những vấn đề kinh tế – chính trị phức tạp nhất thế giới.
Câu chuyện về tài sản bị đóng băng của Iran bắt đầu từ năm 1979, khi cuộc Cách mạng Hồi giáo nổ ra, lật đổ Quốc vương Mohammad Reza Pahlavi và thiết lập một trật tự chính trị hoàn toàn mới tại Tehran. Biến cố này nhanh chóng đẩy quan hệ giữa Iran và Mỹ vào trạng thái đối đầu gay gắt.
Đỉnh điểm của căng thẳng là cuộc khủng hoảng con tin tại Đại sứ quán Mỹ ở Tehran. Các sinh viên Iran đã tấn công cơ quan ngoại giao này, bắt giữ 66 công dân Mỹ. Sau một thời gian, một số người được thả, nhưng 52 con tin còn lại bị giam giữ suốt 444 ngày.
Sự kiện này đã khiến Mỹ lần đầu tiên áp đặt các biện pháp trừng phạt mạnh tay đối với Iran, bao gồm việc đóng băng tài sản với lý do đe dọa an ninh quốc gia. Đây được xem là bước khởi đầu của chuỗi biện pháp hạn chế tài chính kéo dài hàng thập kỷ sau đó.
Đến năm 1981, thông qua trung gian là Algeria, hai bên ký kết Thỏa thuận Algiers. Một phần tài sản của Iran được giải phóng, đổi lại việc các con tin được trả tự do. Tuy nhiên, thỏa thuận này không thể khôi phục quan hệ song phương, và các lệnh trừng phạt tiếp tục được duy trì dưới nhiều hình thức.
Trong các thập kỷ tiếp theo, những lo ngại của phương Tây về chương trình hạt nhân và tên lửa của Iran khiến các biện pháp trừng phạt không những không được dỡ bỏ mà còn mở rộng. Hệ quả là Iran ngày càng bị hạn chế tiếp cận hệ thống tài chính quốc tế, khiến nguồn thu từ xuất khẩu, đặc biệt là dầu mỏ, khó có thể luân chuyển về trong nước.
Một bước ngoặt quan trọng xuất hiện vào năm 2015, khi Iran ký Kế hoạch Hành động Toàn diện chung (JCPOA) với nhóm P5+1. Theo thỏa thuận này, Iran chấp nhận hạn chế chương trình hạt nhân để đổi lấy việc nới lỏng trừng phạt. Khi đó, Tehran đã có thể tiếp cận lại một phần đáng kể tài sản ở nước ngoài, mở ra kỳ vọng phục hồi kinh tế.
Tuy nhiên, tiến trình này nhanh chóng bị đảo ngược. Năm 2018, chính quyền Tổng thống Donald Trump rút Mỹ khỏi JCPOA và tái áp đặt các lệnh trừng phạt nghiêm ngặt. Các dòng tiền của Iran, đặc biệt là doanh thu từ xuất khẩu dầu, một lần nữa bị “đóng băng” trong hệ thống tài chính quốc tế.
Đến năm 2023, Mỹ và Iran đạt được thỏa thuận trao đổi tù nhân, trong đó Tehran thả 5 công dân Mỹ gốc Iran để đổi lấy việc Mỹ cho phép tiếp cận khoảng 6 tỷ USD doanh thu dầu mỏ bị đóng băng tại Hàn Quốc. Số tiền này sau đó được chuyển sang Qatar để giám sát.
Tuy nhiên, diễn biến địa chính trị tiếp tục khiến tình hình đảo chiều. Sau các căng thẳng mới tại Trung Đông, Mỹ đã áp đặt thêm các lệnh trừng phạt vào năm 2024, khiến Iran lại mất quyền tiếp cận khoản tiền này dù nó đã được chuyển đến Doha.
Đến năm 2026, tài sản tiếp tục là vấn đề trung tâm trong đàm phán khi Mỹ cân nhắc giải phóng thêm khoảng 20 tỷ USD để đổi lấy việc Iran hạn chế làm giàu uranium.
Song song với Mỹ, Liên minh châu Âu cũng áp dụng các biện pháp đóng băng tài sản đối với Iran, với các lý do liên quan đến nhân quyền, chương trình hạt nhân và các cáo buộc hỗ trợ hoạt động quân sự.
Hơn 100 tỷ USD “mắc kẹt” và phân tán ở nhiều quốc gia
Mặc dù không có con số chính thức tuyệt đối, nhiều báo cáo và chuyên gia ước tính tổng tài sản bị đóng băng của Iran ở nước ngoài lên tới hơn 100 tỷ USD. Đây là một khoản tiền khổng lồ, tương đương khoảng ba lần doanh thu hàng năm từ xuất khẩu hydrocarbon của nước này.
Tuy nhiên, không phải toàn bộ số tiền này đều có thể được giải phóng ngay cả khi các lệnh trừng phạt được dỡ bỏ. Theo các đánh giá trước đây của giới chức Mỹ, một phần đáng kể tài sản đã được Iran cam kết cho các khoản đầu tư hoặc nghĩa vụ tài chính từ trước, nên khả năng tiếp cận thực tế chỉ ở mức khoảng một nửa.
Số tài sản bị đóng băng này không nằm tập trung ở một nơi mà phân tán tại nhiều quốc gia. Theo các nguồn tin, Trung Quốc đang nắm giữ ít nhất 20 tỷ USD, Ấn Độ khoảng 7 tỷ USD, Iraq khoảng 6 tỷ USD, Nhật Bản khoảng 1,5 tỷ USD.
Ngoài ra, Mỹ trực tiếp nắm giữ khoảng 2 tỷ USD tài sản của Iran, trong khi một số quốc gia châu Âu như Luxembourg cũng giữ khoảng 1,6 tỷ USD. Qatar hiện đang nắm giữ khoảng 6 tỷ USD – khoản tiền từng được chuyển từ Hàn Quốc sang nhưng sau đó lại bị phong tỏa.
Nguồn gốc của phần lớn số tiền này đến từ hoạt động xuất khẩu dầu mỏ của Iran. Dù bị trừng phạt, Iran vẫn được phép bán một lượng dầu hạn chế cho một số quốc gia nhất định. Tuy nhiên, doanh thu từ các giao dịch này thường bị giữ lại trong các ngân hàng tại nước mua dầu, thay vì được chuyển về Tehran.
Nguyên nhân là do các lệnh trừng phạt tài chính của Mỹ cấm việc chuyển tiền trực tiếp. Điều này khiến dòng tiền của Iran tồn tại dưới dạng “tài sản bị khóa” – vẫn thuộc quyền sở hữu nhưng không thể sử dụng.
Vì sao việc giải phóng tài sản lại mang ý nghĩa sống còn với Iran?
Đối với Iran, số tài sản bị đóng băng không chỉ là con số trên giấy tờ, mà còn là nguồn lực tài chính, "phao cứu sinh" có thể tạo ra tác động tức thì đối với nền kinh tế trong nước.
Sau nhiều năm chịu trừng phạt, nền kinh tế Iran rơi vào tình trạng khó khăn kéo dài. Xuất khẩu dầu bị hạn chế, đầu tư nước ngoài sụt giảm, trong khi cơ sở hạ tầng và công nghiệp không được nâng cấp đúng mức. Đồng nội tệ mất giá mạnh, lạm phát tăng cao đã gây ra nhiều bất ổn xã hội.
Trong bối cảnh đó, việc giải phóng tài sản bị đóng băng có thể mang lại nguồn ngoại tệ quan trọng, giúp Iran ổn định tỷ giá, kiểm soát lạm phát và cải thiện đời sống người dân. Đây cũng là nguồn vốn để đầu tư vào các lĩnh vực thiết yếu như năng lượng, nước sạch và hệ thống điện.
Các chuyên gia cho rằng nhiều dự án tại Iran đang bị đình trệ do thiếu vốn, từ công nghiệp ô tô đến khai thác dầu khí. Nếu có thể tiếp cận nguồn tài sản bị đóng băng, Tehran có thể nhanh chóng tái khởi động các dự án này, đồng thời mua sắm thiết bị và công nghệ cần thiết từ nước ngoài.
Ngoài ra, ngành hàng không của Iran cũng đang cần được hiện đại hóa khi đội bay đã cũ và thiếu phụ tùng thay thế. Nguồn tiền này có thể giúp nước này đầu tư vào việc nâng cấp đội bay và đảm bảo an toàn vận hành.
Dù vậy, vẫn tồn tại những lo ngại từ phía phương Tây rằng Iran có thể sử dụng nguồn tiền này để tài trợ cho các lực lượng đồng minh trong khu vực. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia nhận định rằng trong bối cảnh hiện tại, ưu tiên lớn nhất của Iran vẫn là ổn định kinh tế trong nước và tạo việc làm.
Ở góc độ ngoại giao, việc giải tỏa tài sản bị đóng băng còn mang ý nghĩa như một tín hiệu chính trị. Nếu Mỹ hoặc các nước phương Tây nới lỏng kiểm soát, điều đó có thể mở ra cơ hội đối thoại và hợp tác, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của các đối tác quốc tế khác vào nền kinh tế Iran.
Ngược lại, việc tiếp tục duy trì phong tỏa tài sản sẽ khiến áp lực kinh tế đối với Tehran ngày càng lớn, đồng thời làm gia tăng căng thẳng trong khu vực.
Tài sản bị đóng băng, xét về bản chất, là những nguồn lực tài chính bị hạn chế quyền sử dụng bởi các quyết định chính trị hoặc pháp lý. Trong trường hợp của Iran, đây là kết quả của nhiều thập kỷ xung đột, nghi kỵ và cạnh tranh địa chính trị.
Cho đến nay, câu hỏi về việc liệu Iran có thể tiếp cận lại toàn bộ “phao cứu sinh” hơn 100 tỷ USD hay không vẫn chưa có lời giải rõ ràng. Nhưng chắc chắn, số tiền này sẽ tiếp tục đóng vai trò then chốt trong mọi tính toán kinh tế và ngoại giao của Tehran trong thời gian tới.
Nhà Minh là một xã hội mà hoàng tộc sống xa hoa không cần sản xuất; quan lại run rẩy làm việc trong nhục nhã; còn dân thường phải lao lực cả đời mà tiền đồ bị khóa chặt. Đó là một thời đại phân tầng cực độ, lạnh lùng và tăm tối.
Ngày nay, hễ nhắc đến nhà Minh, rất nhiều người lập tức rơi vào một trạng thái tự hào mang tính phản xạ, như thể bản thân triều đại ấy là một thứ “vinh dự dân tộc” bất khả xâm phạm. Chỉ cần ai đó nói một câu rằng nhà Minh không tốt, lập tức sẽ vấp phải những phản ứng dữ dội: nào là “Hán gian”, nào là “tàn dư Mãn Thanh”, nào là “sâu bọ”. Cảm giác như người ta không còn bàn về lịch sử nữa, mà đang chạm vào một tín điều không được phép nghi ngờ.
Nhưng vấn đề nằm chính ở đó: nhà Minh có thật sự tốt đẹp như trong tưởng tượng hay không? Nếu triều đại ấy quả thực vĩ đại đến vậy, vì sao chính người dân đương thời lại đứng lên lật đổ nó? Vì sao người sống trong thời Minh từng oán ghét nó đến tận xương tủy, còn hậu thế lại bỗng dưng đồng loạt hoài niệm? Và vì sao hầu như mọi công trình sử học nghiêm túc đều dành cho thể chế Minh một cái nhìn đầy phê phán?
Chu Nguyên Chương.
Muốn trả lời những câu hỏi ấy, chỉ có một cách: gạt bỏ khẩu hiệu và lập trường, trở về với bản thân thể chế và trình độ văn minh, để nhìn lại xem triều đại này thực sự đã làm gì.
Cái gọi là “khôi phục Trung Hoa” thực ra là một trong những huyền thoại lớn nhất suốt 600 năm lịch sử. Rất nhiều người sùng bái Chu Nguyên Chương thường khẳng định ông là vị anh hùng đã “phục hưng Trung Hoa”. Nhưng luận điệu ấy không chịu nổi bất kỳ sự phân tích nghiêm túc nào.
Trước hết, cần làm rõ một khái niệm thường xuyên bị cố tình đánh tráo: “Trung Hoa” chưa bao giờ chỉ là một khái niệm địa lý. Đó là một khái niệm văn minh, được cấu thành bởi thể chế chính trị, truyền thống quản trị, hình thái văn hóa, ngôn ngữ, chữ viết, lễ nghi và phục sức. Nếu chỉ cần chiếm được thiên hạ và để một người Hán ngồi lên ngai vàng là đủ để gọi là “khôi phục Trung Hoa”, thì khái niệm ấy quả thật quá nông cạn.
Xét về lãnh thổ, nhà Minh cũng không hề khôi phục hoàn toàn cương vực thời Hán Đường. Xét về thể chế, tình hình còn ngược lại. Từ thời Hán đến Tống, đặc trưng căn bản của chính trị Trung Hoa là sự cân bằng tương đối giữa hoàng quyền và tướng quyền, giữa hoàng đế và tầng lớp sĩ đại phu. Nhưng việc lớn đầu tiên Chu Nguyên Chương làm sau khi lên ngôi chính là bãi bỏ chế độ tể tướng, tập trung toàn bộ quyền lực vào tay hoàng đế.
Từ đó, Trung Quốc bước hẳn vào thời đại quân chủ chuyên chế tuyệt đối. Quốc gia không còn là một hệ thống quản trị công cộng, mà dần trở thành tài sản chính trị riêng của hoàng tộc. Để duy trì sự phục tùng của bộ máy quan liêu trong một trật tự không còn cơ chế đồng trị, Chu Nguyên Chương chỉ dựa vào một thứ: nỗi sợ hãi.
Ông biến triều đình từ nơi các đại thần có thể ngồi bàn quốc sự thành nơi quần thần phải quỳ nghe thánh chỉ. Ông đặt ra chế độ đình trượng, công khai làm nhục và trừng phạt thể xác quan lại ngay giữa triều đường. Rồi đến Cẩm y vệ, sau này phát triển thành Đông Xưởng, Tây Xưởng và Nội Hành Xưởng, tạo nên hệ thống mật vụ chặt chẽ và đáng sợ bậc nhất trong lịch sử Trung Hoa.
Khi phẩm giá bị tước đoạt một cách có hệ thống, khi đời tư có thể bị lôi ra bất cứ lúc nào để trở thành cái cớ trừng phạt, thì cái gọi là “trung thành” thực chất chỉ là phản xạ của sự sợ hãi. Đó không phải là khôi phục Trung Hoa, mà là bóp méo Trung Hoa.
Trong lĩnh vực văn hóa và tư tưởng, sự thụt lùi ấy còn rõ rệt hơn. Chu Nguyên Chương trực tiếp cắt bỏ trong Mạnh Tử những câu như “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” hay “Quân thị thần như thổ giới, tắc thần thị quân như khấu thù”, tức những tư tưởng có khả năng hạn chế quyền lực quân chủ. Chu Đệ tiếp tục biên soạn Tứ thư đại toàn, Ngũ kinh đại toàn, độc quyền hóa việc giải thích kinh điển.
Khoa cử vốn từng là nơi cho phép thảo luận học thuật dưới thời Đường Tống, đến thời Minh bị biến dạng thành chế độ bát cổ văn. Sĩ tử chỉ được phép “nói thay thánh hiền”, không được trình bày quan điểm riêng, càng không được bàn đến chính trị hay dân sinh. Kết hợp với văn tự ngục và tội danh ngôn luận, toàn bộ xã hội dần rơi vào câm lặng. Sức sáng tạo tư tưởng và văn học cũng theo đó mà suy kiệt.
Về kinh tế, nhà Minh đi ngược hẳn xu thế phát triển của thời Tống Nguyên. Khi ấy, Trung Quốc đã là một xã hội thương mại hóa cao, với ngoại thương, đô thị và thủ công nghiệp phát triển mạnh. Thế nhưng Chu Nguyên Chương lại lấy “trọng nông ức thương” làm quốc sách, đồng thời thi hành hải cấm, cắt đứt giao thương biển. Chế độ hộ tịch còn trói buộc thợ thủ công thành các hộ nghề cha truyền con nối, tước đoạt khả năng tham gia thị trường và hưởng lợi từ thành quả lao động.
Nói cách khác, Chu Nguyên Chương không hề “khôi phục Trung Hoa”. Ông đã kéo bánh xe lịch sử lùi lại đúng vào thời điểm nhân loại đang bước vào một kỷ nguyên mới của phân công, giao lưu và kiểm soát quyền lực.
Người ta thường nói: Chu Nguyên Chương xuất thân nông dân nên đặc biệt tốt với nông dân. Nhưng nếu đem câu ấy nói với một người nông dân thời Minh, rất có thể bạn sẽ bị họ liều mạng phản bác.
Thực tế, Chu Nguyên Chương là một trong những vị hoàng đế kiểm soát nông dân chặt chẽ nhất, bóc lột nặng nề nhất trong lịch sử Trung Quốc. Ông rất giỏi diễn vai một vị vua gần dân. Những câu như “Trẫm vốn là nông phu, hiểu rõ nỗi gian nan của nghề nông” hay “Trẫm vốn là nông phu, thấu hiểu nỗi khổ dân gian” quả thật dễ làm người nghe xúc động. Nhưng vấn đề là, ông chưa bao giờ có ý định chịu trách nhiệm thực sự cho những lời ấy.
Ông hiểu rõ sức mạnh của việc xây dựng hình tượng. Xuất thân bần hàn trở thành công cụ tạo dựng tính chính danh về đạo đức. Còn lời hứa có được thực hiện hay không, lại là chuyện khác.
Công cụ quan trọng nhất để kiểm soát dân chúng là hệ thống Hoàng sách và Ngư lân đồ sách. Dưới chế độ này, toàn bộ dân cư bị phân loại chặt chẽ thành quân hộ, dân hộ, tượng hộ… và gần như bị cố định theo hình thức cha truyền con nối. Thợ rèn đời đời rèn sắt, người nuôi ngựa đời đời nuôi ngựa, thợ dệt đời đời dệt vải.
Đó không chỉ là phân công lao động, mà là một dạng nô dịch được thể chế hóa. Cá nhân không còn là thành viên của xã hội, mà trở thành một linh kiện trong cỗ máy nhà nước. Muốn thay đổi số phận, gần như chỉ có cách trốn chạy khỏi hộ tịch, đánh đổi bằng nguy cơ tan cửa nát nhà.
Cái gọi là “thuế nhẹ” của nhà Minh cũng chỉ là một huyền thoại. Mức thuế chính thức quả có vẻ thấp, nhưng gánh nặng thực tế lại vô cùng lớn. Ngoài thuế ruộng, nông dân còn phải gánh đủ loại khoản phụ thu ngoài pháp định, phải nuôi bộ máy quan lại, phải cung cấp lộc mễ cho tông thất ngày càng phình to, và phải chịu vô số lao dịch không công.
Lương quan lại bị cố tình duy trì ở mức thấp, tạo ra môi trường mà thanh liêm gần như bất khả thi. Hệ quả là tham nhũng trở thành một phần cấu trúc của bộ máy. Cuối cùng, mọi chi phí đều được chuyển xuống đầu người nông dân.
Bởi vậy, cái gọi là “nhân chính” nhanh chóng biến thành một hệ thống áp bức tổng hợp. Đến trung và hậu kỳ nhà Minh, lưu dân đầy rẫy, khởi nghĩa liên miên. Sự oán hận tích tụ lâu ngày cuối cùng bùng nổ thành làn sóng thanh toán tông thất khi triều đại sụp đổ.
Nhà Minh là một xã hội mà hoàng tộc sống xa hoa không cần sản xuất; quan lại run rẩy làm việc trong nhục nhã; còn dân thường phải lao lực cả đời mà tiền đồ bị khóa chặt. Đó là một thời đại phân tầng cực độ, lạnh lùng và tăm tối.
Ảnh hưởng sâu xa hơn của nhà Minh còn nằm ở việc tái cấu trúc tâm lý và văn hóa xã hội. Trước thời Minh, người Hán chưa bao giờ là một dân tộc khép kín hay thiếu sức sống. Từ Hán, Đường đến Tống, ca múa, yến tiệc, thể thao và các hình thức giải trí công cộng đều vô cùng phát triển. Nhưng từ thời Minh, những truyền thống mang tính tập thể, cởi mở và giàu tính biểu đạt ấy dần bị đẩy ra khỏi đời sống công cộng.
Thay vào đó là những hoạt động tĩnh tại, riêng tư và phi thân thể như thưởng hoa, thư pháp, hội họa, thanh đàm, thiền định. Không phải người Hán tự nhiên thay đổi bản tính, mà bởi môi trường chính trị chuyên chế khiến mọi biểu hiện công khai của cảm xúc, cơ thể và sự tụ tập đều bị xem là yếu tố bất ổn.
Trong một xã hội như vậy, an toàn đến từ sự kín đáo, kiềm chế và phục tùng; còn rủi ro đến từ sự bộc lộ, phô trương và tự do biểu đạt. Dần dần, thận trọng thay thế phóng khoáng, thuận phục lấn át sáng tạo, tự bảo toàn trở thành đức hạnh hàng đầu.
Nhà Minh còn đưa đạo đức vào khuôn khổ quản trị nhà nước. Những giá trị vốn thuộc về gia đình và cộng đồng nay được chính quyền lượng hóa, khen thưởng và biến thành vốn chính trị. Khi đạo đức trở thành đối tượng biểu dương công khai, nó không còn là sự tự giác nội tâm mà dễ biến thành màn trình diễn bên ngoài. Kết quả tất yếu là đạo đức bị công cụ hóa, rồi dần dần trở nên giả tạo.
Vậy tại sao ngày nay vẫn có nhiều người hoài niệm nhà Minh? Bởi thứ họ hoài niệm không phải là lịch sử, mà là khẩu hiệu. Những câu như “không hòa thân, không bồi khoản, không cắt đất, không triều cống” hay “thiên tử giữ cửa nước, quân vương chết vì xã tắc” nghe rất hào hùng, nhưng hoàn toàn không nói gì về đời sống của dân chúng, về chi phí thể chế hay chất lượng xã hội.
Đó là những mỹ từ đứng từ góc nhìn của đế vương và văn nhân phục vụ triều đình. Chúng ca ngợi ý chí quốc gia, chứ không quan tâm đến số phận con người. Một quốc gia trưởng thành không cần hoàng đế phải thân chinh trấn thủ biên cương. Việc lấy thất bại cơ cấu của hệ thống quốc phòng để tô vẽ thành biểu tượng đạo đức chưa bao giờ là điều đáng tự hào.
Nhiều người cũng không thực sự so sánh nhà Minh với các triều đại thành công hơn, mà chỉ dùng sự mục nát của cuối Thanh để làm nền tôn vinh nhà Minh. Đó là một kiểu ngụy biện: chọn một đối tượng tồi tệ hơn để tạo ra cảm giác ưu việt tương đối.
Nhưng giá trị của một triều đại không nằm ở chỗ nó ít tệ hơn thời kỳ sụp đổ của triều đại khác, mà ở chỗ nó có mang lại một trật tự văn minh cao hơn cho xã hội hay không. Một nền văn minh tiến bộ phải bảo vệ cá nhân, hạn chế quyền lực, khuyến khích sáng tạo và dung nạp đa dạng. Chính ở những phương diện ấy, nhà Minh lại thể hiện sự thoái lui rõ rệt.
Bởi vậy, nhiều người ngày nay yêu mến nhà Minh không phải vì họ hiểu nhà Minh, mà vì họ chưa từng thực sự bước vào bản chất của lịch sử. Họ nhìn thấy ánh đèn sân khấu của những khẩu hiệu hào hùng, nhưng cố tình lảng tránh cái giá thể chế chất đống phía sau hậu trường. Họ say mê vẻ ngoài của đế quốc, mà không mấy bận tâm đến chất lượng sống của người bình thường.
Và một xã hội, khi đã quen dùng nhiệt huyết thay cho nhận thức, dùng khẩu hiệu thay cho lịch sử, thì khoảng cách từ việc ngợi ca quá khứ đến việc lặp lại chính những sai lầm của quá khứ, thực ra không hề xa.
Tần Thủy Hoàng dùng chưa đầy vài chục năm để quét sạch lục quốc, thống nhất Trung Hoa. Thế nhưng khi nhà Tần lâm nguy, đại quân từng chinh chiến khắp sáu nước ấy rốt cuộc đã đi đâu?
Nhắc đến nhà Tần, người ta thường không khỏi tiếc nuối. Tần Thủy Hoàng dùng chưa đầy vài chục năm để quét sạch lục quốc, thống nhất Trung Hoa, dựng nên đế quốc phong kiến tập quyền đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa. Thế nhưng triều đại mà ông dày công gây dựng lại tồn tại vô cùng ngắn ngủi. Từ khi thành lập đến lúc diệt vong chỉ vỏn vẹn 15 năm. Một đế quốc từng sở hữu đại quân trăm vạn, uy chấn thiên hạ, vì sao khi lâm vào cảnh sụp đổ lại không có ai đến cứu? Đại quân từng chinh chiến khắp sáu nước ấy rốt cuộc đã đi đâu?
Hạng Vũ trở thành đội quân nổi dậy uy hiếp tới nhà Tần.
Thực ra, vào cuối thời Tần, lực lượng quân sự của đế quốc chủ yếu được chia thành ba tập đoàn lớn. Thứ nhất là quân đoàn Trường Thành, khoảng ba trăm nghìn người, đóng ở phương bắc. Nhiệm vụ của họ là xây dựng, củng cố Trường Thành, đồng thời phòng thủ trước sự quấy nhiễu của Hung Nô và các bộ tộc du mục. Đây là tuyến phòng thủ chiến lược, không thể dễ dàng rút bỏ.
Thứ hai là quân đoàn Nam Việt, lên tới năm trăm nghìn người. Lực lượng này được triển khai ở vùng Lĩnh Nam, vừa để trấn áp các thế lực bản địa mới bị chinh phục, vừa để bảo vệ quá trình khai phá vùng đất phương nam. Khi ấy, Nam Việt vẫn chưa hoàn toàn ổn định; việc duy trì một đội quân hùng hậu tại đây là điều tất yếu.
Cuối cùng là lực lượng do Chương Hàm chỉ huy, khoảng hai trăm nghìn quân. Đây mới là quân chủ lực cơ động, có thể điều động đến các chiến trường trọng yếu trong nội địa. Nói cách khác, khi biến loạn nổ ra, đây gần như là lực lượng tinh nhuệ cuối cùng mà triều đình trung ương có thể trực tiếp sử dụng.
Khi các cuộc khởi nghĩa nông dân bùng phát, triều đình ban đầu hoàn toàn xem thường. Họ cho rằng đó chỉ là những đám nổi loạn lẻ tẻ, không đủ sức uy hiếp nền thống trị của đế quốc. Nhưng ngọn lửa phản kháng nhanh chóng lan rộng. Khi tình hình vượt khỏi tầm kiểm soát, triều đình buộc phải điều động quân chính quy. Chương Hàm được giao thống lĩnh hai trăm nghìn quân tiến ra tiền tuyến.
Ban đầu, ông chiến đấu rất hiệu quả. Quân Tần liên tiếp đánh bại và tiêu diệt nhiều lực lượng khởi nghĩa. Tuy nhiên, Chương Hàm sớm nhận ra rằng chỉ đàn áp từng ổ nổi dậy riêng lẻ thì không thể giải quyết tận gốc vấn đề. Muốn dập tắt phong trào, phải đánh bại thủ lĩnh mạnh nhất. Khi ấy, Hạng Vũ chính là linh hồn của lực lượng chống Tần. Nếu diệt được Hạng Vũ, các cánh quân khác sẽ khó lòng tồn tại.
Nhưng cuộc đối đầu với Hạng Vũ lại không hề thuận lợi. Chương Hàm không thể giành thắng lợi quyết định. Trong lúc chiến sự bế tắc, ông phái sứ giả về Hàm Dương để báo cáo tình hình thực tế, mong triều đình thấu hiểu và hỗ trợ. Thế nhưng, quyền lực khi ấy nằm trọn trong tay Triệu Cao. Tên gian thần này không những từ chối tiếp kiến mà còn sai người giết luôn sứ giả.
Hành động ấy khiến Chương Hàm hiểu rằng mình đã rơi vào đường cùng. Thắng cũng chết, bại cũng chết. Dưới sự thao túng của Triệu Cao, ông không còn đường lui. Cuối cùng, Chương Hàm quyết định đầu hàng Hạng Vũ. Đây là bước ngoặt chí mạng. Sau khi tiếp nhận quân đầu hàng, Hạng Vũ lại ra lệnh chôn sống và giết hại hàng loạt, khiến hai trăm nghìn quân Tần gần như bị xóa sổ hoàn toàn.
Sự mất mát ấy đồng nghĩa với việc triều Tần đánh mất lực lượng cơ động chủ lực cuối cùng. Từ đây, triều đình gần như không còn quân đội đủ sức xoay chuyển cục diện.
Vậy còn hai tập đoàn quân kia thì sao?
Quân đoàn Trường Thành vốn do Mông Điềm chỉ huy. Sau khi Mông Điềm bị ép tự sát, quyền chỉ huy rơi vào tay Vương Ly. Về số phận của đội quân này, sử sách có hai cách lý giải. Một là họ đã được điều về nội địa và hợp nhất với lực lượng của Chương Hàm để đối phó quân khởi nghĩa. Hai là sau khi rút về, do sĩ khí sa sút và thế trận bất lợi, họ lần lượt bị quân nổi dậy đánh tan. Dù theo cách giải thích nào, kết cục vẫn giống nhau: quân đoàn từng trấn giữ phương bắc ấy cuối cùng cũng tan rã.
Còn quân đoàn Nam Việt mới thực sự là lực lượng hùng hậu nhất. Với năm trăm nghìn quân, đây là đội quân đông hơn cả hai tập đoàn còn lại cộng lại. Không chỉ đông, họ còn dày dạn kinh nghiệm chiến đấu và quen thuộc với địa hình phương nam. Nhưng chính vì ở xa trung tâm quyền lực, họ lại trở thành lực lượng nằm ngoài tầm kiểm soát của triều đình khi biến cố xảy ra.
Người nắm giữ quân đoàn này là Triệu Đà. Khi nhà Tần rơi vào hỗn loạn, Triệu Đà nhanh chóng nhận ra cục diện đã không thể cứu vãn. Thay vì đem quân về bắc cứu triều đình, ông lựa chọn con đường thực tế hơn: giữ vững vùng Lĩnh Nam, cắt đứt với Trung Nguyên và xây dựng thế lực riêng.
Ông tự xưng là Nam Việt Vương, lập nên nước Nam Việt độc lập. Từ đó, quân đoàn năm trăm nghìn người này không còn là quân đội của nhà Tần nữa, mà trở thành nền tảng cho một quốc gia mới. Mãi đến thời Hán Vũ Đế, nước Nam Việt do Triệu Đà gây dựng mới bị nhà Hán thôn tính.
Nhìn lại, sự sụp đổ của nhà Tần không phải vì thiếu quân, mà vì lực lượng quân sự bị phân tán khắp đế quốc. Khi khủng hoảng bùng nổ, quân chủ lực của Chương Hàm bị tiêu diệt, quân Trường Thành tan rã, còn quân Nam Việt thì ly khai. Một đế quốc tưởng như hùng mạnh bỗng chốc trở nên trống rỗng.
Tần Thủy Hoàng từng mơ về một triều đại truyền đến muôn đời. Nhưng ông không ngờ rằng, đế quốc do mình dựng nên lại chỉ truyền được đến đời thứ hai. Điều đó cho thấy, sức mạnh quân sự dù lớn đến đâu cũng không thể cứu nổi một triều đại khi nội bộ mục ruỗng, quyền lực bị gian thần thao túng và lòng người đã hoàn toàn rời bỏ.
Chiến dịch phá hoại do cơ quan tình báo quân đội Israel (AMAN) tổ chức vào tháng 7/1954 đã thất bại thảm hại.
Được xây dựng trên những toan tính thực dụng và chiến thuật phi đạo đức mang tên “hành động dưới màu cờ giả”, chiến dịch này cuối cùng trở nên phản tác dụng đối với chính những kẻ chủ mưu, đồng thời để lại nhiều tranh cãi lớn trong lịch sử ngành tình báo thế giới.
Tháng 7/1954, trong bầu không khí oi nồng của mùa hè ở Cairo và Alexandria, đời sống chính trị cũng sục sôi không kém. Nước Anh đang tiến hành những cuộc đàm phán đầy căng thẳng với chính phủ cách mạng của Tổng thống Ai Cập Gamal Abdel Nasser về việc rút quân khỏi khu vực Kênh đào Suez, nút thắt chiến lược nối liền Đông - Tây.
Đối với nhà nước Israel non trẻ vừa mới giành được độc lập, việc người Anh sắp rút quân chẳng khác nào một thảm họa. Sự hiện diện quân sự của Anh đã kìm hãm những tham vọng của Ai Cập. Thiếu nó, Israel cảm thấy mình trở nên yếu ớt trước một nước láng giềng thù địch. Để ngăn chặn việc Anh rút quân khỏi Ai Cập, AMAN đã xây dựng chiến dịch với mật danh “Susannah”. Một chiến dịch mà sự vô đạo đức và vô liêm sỉ của nó làm rúng động cả những cựu binh dày dạn nhất trong các cuộc chiến tranh ngầm. Mục tiêu của nó là thiêu rụi mối quan hệ giữa Ai Cập và phương Tây. Phương pháp của nó là khủng bố dưới màu cờ giả. Và cái giá của nó là sinh mệnh của các điệp viên bị đem ra làm quân cờ.
Đại tá Binyamin Gibli, Cục trưởng Cục Tình báo Quân đội Israel.
Thật nghịch lý, Israel lại lo sợ một thỏa thuận hòa bình diễn ra quá nhanh giữa Ai Cập và Anh quốc. Việc quân đội Anh rút khỏi khu vực Kênh đào Suez đồng nghĩa với việc quân đội Ai Cập sẽ tăng cường sức mạnh tại bán đảo Sinai, ngay sát biên giới của nhà nước Do Thái. Bộ trưởng Quốc phòng Israel Pinhas Lavon và những sĩ quan đầy tham vọng của AMAN, do Đại tá Binyamin Gibli, Cục trưởng Cục Tình báo Quân đội, dẫn đầu, chỉ thấy một giải pháp duy nhất: phá hoại cuộc đàm phán bằng cách dàn dựng hình ảnh một làn sóng bạo lực ngay trong lòng Ai Cập, nhằm chống lại các lợi ích của phương Tây.
Tính toán của họ rất đơn giản: Nếu các cơ sở của Mỹ và Anh bắt đầu bị đốt phá và đánh bom, còn tội lỗi được đổ lên đầu những người theo chủ nghĩa dân tộc Ai Cập, những kẻ Hồi giáo cực đoan hay những người cộng sản, thì London và Washington không chỉ từ chối rút quân mà còn tỏ rõ lập trường cứng rắn đối với Tổng thống Gamal Abdel Nasser. Xung đột sẽ leo thang, đàm phán bị chôn vùi và hiện trạng được duy trì. Mục đích biện minh cho phương tiện. Và những phương tiện được chọn thật sự tàn bạo.
Tháng 7/1954 đã trở thành cơn ác mộng đối với các phái đoàn ngoại giao và văn hóa của phương Tây tại Ai Cập. Một loạt các vụ phóng hỏa và đánh bom, tưởng chừng như không liên quan đến nhau, đã càn quét hai thành phố chính của đất nước:
Ngày 2/7: Thư viện Mỹ tại Alexandria bị phóng hỏa.
Ngày 14/7: Các bưu điện tại Alexandria và Cairo bị gài mìn. Quả bom tại bưu điện Cairo đã không phát nổ.
Ngày 23/7: Hỏa hoạn bùng phát tại thư viện Mỹ ở Cairo và một cơ quan của Anh. Sóng xung kích làm vỡ kính tòa nhà lãnh sự quán Mỹ.
Đêm định mệnh 23/7: Một nhóm hai người gồm Philippe Nathanson và Victor Levy được giao nhiệm vụ đặt các thiết bị gây cháy tại rạp chiếu phim "Rio" và "Metropol" ở Alexandria, nơi đang chiếu phim Mỹ. Mục tiêu là gây ra sự hoảng loạn nhưng không có thương vong (như họ đã được hứa). Thế nhưng, tại rạp "Rio", đã xảy ra một sự cố bi thảm.
Philippe Nathanson đã mắc phải một sai lầm chí mạng khi đang tìm cách đặt quả bom vào túi sau ghế trong khán phòng chật kín khán giả của rạp "Rio". Thiết bị phát nổ ngay trên tay anh ta. Nathanson bị bỏng nặng ở mặt và tay nhưng đã thoát chết. Việc quả bom phát nổ sớm không chỉ kích hoạt quả bom, mà còn cả toàn bộ chiến dịch "Susannah".
Cảnh sát Ai Cập ngay lập tức huy động toàn bộ lực lượng vào cuộc. Dựa trên những dấu vết nóng hổi và lời khai của các nhân chứng, các thành viên của nhóm khủng bố bí mật bắt đầu bị bắt giữ. Philippe Nathanson bị bắt ngay sau vụ nổ tại rạp "Rio". Trước những đòn tra tấn dã man của cảnh sát Ai Cập, anh ta đã đưa ra những lời khai đầu tiên.
Philippe Nathanson tìm cách đánh lạc hướng dư luận bằng việc tuyên bố mình là người cộng sản và nhận được chỉ thị từ Moscow. Lời nói dối này nhằm cứu bản thân cùng đồng đội và làm rối loạn quá trình điều tra. Nhưng, các điều tra viên Ai Cập không hề mắc bẫy. Mạng lưới bắt đầu sụp đổ nhanh chóng, các cuộc bắt giữ diễn ra liên tiếp. Marcelle Ninio, Robert Dassa, Victor Levy, Shmuel Azar và các thành viên khác của nhóm lần lượt sa lưới.
Vì sao chính quyền Ai Cập có thể lần theo dấu vết của nhóm này nhanh như vậy? Trong nhiều thập kỷ, các nguồn tin chính thức của Israel khẳng định giả thuyết về một điệp viên hai mang. Nghi phạm chính là Avraham (John) Dar, liên lạc viên ở Tel Aviv, người trực tiếp điều hành nhóm. Tuy nhiên, những bằng chứng thuyết phục hơn lại chỉ ra một thành viên khác trong mạng lưới: Abraham Seidenberg (mật danh là "Paul Frank").
Theo các nhà sử học và cựu điệp viên Israel, khi nhận thấy nguy hiểm cận kề, Seidenberg đã phản bội đồng đội bằng cách cung cấp cho lực lượng phản gián Ai Cập thông tin về các kế hoạch và thành viên của nhóm. Anh ta là người bị bắt sau cùng và có thái độ lảng tránh đầy nghi vấn trong quá trình thẩm vấn. Sau này, khi được trả tự do trong một cuộc trao đổi tù nhân và trở về Israel, Seidenberg đã bị tòa án quân sự xét xử vì tội phản quốc và bị kết án 12 năm tù. Tình tiết này đã gián tiếp xác nhận giả thuyết về sự phản bội của anh ta.
Tuy nhiên, và đây là điều cực kỳ quan trọng, chính các thành viên của nhóm "Susannah", kể cả Robert Dassa và Marcelle Ninio, đến tận cuối đời, vẫn kiên quyết bác bỏ giả thuyết về sự phản bội trong hàng ngũ của mình. Họ cho rằng thất bại là kết quả của một sự cố ngẫu nhiên định mệnh (vụ nổ tại rạp "Rio"), cộng với sự thiếu chuyên nghiệp của ban lãnh đạo tại Tel Aviv (đã cung cấp những thiết bị không đáng tin cậy) và một kế hoạch tác chiến sơ hở. Đồng thời, trình độ nghiệp vụ cao của cảnh sát Ai Cập sau đó đã đặt dấu chấm hết cho chiến dịch này. "Chúng tôi được huấn luyện để làm gián điệp, được dạy cách thu thập tin tức, chứ không phải để tổ chức các vụ phá hoại" - Robert Dassa sau này nhớ lại.
Họ coi việc kết tội Seidenberg là một nỗ lực của ban lãnh đạo AMAN nhằm tìm kiếm “vật tế thần” và đổ lỗi cho ông về thất bại của chiến dịch và những nỗi thống khổ mà họ phải gánh chịu sau đó. Đối với họ, kẻ phản bội là nhà nước Israel.
Phiên tòa xét xử các thành viên của nhóm bí mật bị bắt giữ (ở Israel nó được gọi là "Vụ án Ai Cập" hoặc "Vụ án Lavon" (theo tên Bộ trưởng Quốc phòng thời bấy giờ), bắt đầu tại Cairo vào tháng 12/1954. Sự kiện này trở thành một vụ bê bối quốc tế. Các cáo buộc rất nghiêm trọng: hoạt động gián điệp, khủng bố và âm mưu chống phá nhà nước. Chính phủ Israel, đứng đầu là Thủ tướng Moshe Sharett, giữ lập trường hoàn toàn phủ nhận.
Trong bài phát biểu trước Knesset (Quốc hội) ngày 12/1/1955, ông Moshe Sharett đã thốt ra những lời trở thành biểu tượng cho sự đạo đức giả của quốc gia:
"Chính phủ Israel bác bỏ hoàn toàn những cáo buộc sai trái của các công tố viên Ai Cập đưa ra, khi gán ghép chính quyền Israel với những hành vi tồi tệ nhất và buộc tội nước này âm mưu chống lại an ninh và tự do trong các quan hệ quốc tế của Ai Cập. Chúng tôi coi những người Do Thái vô tội đang bị chính quyền Ai Cập cáo buộc những tội ác khủng khiếp nhất là nạn nhân của sự thù địch chưa từng có đối với Nhà nước Israel. Chúng tôi kêu gọi tất cả những ai tin tưởng vào hòa bình, ổn định và quan hệ nhân đạo giữa các quốc gia, hãy ngăn chặn sự bất công nghiêm trọng này".
Trong khi đó, những "người Do thái vô tội" được chính quyền Israel cử đi làm nhiệm vụ này đang ngồi trên ghế bị cáo tại Cairo. Hai người trong số họ, Marcelle Ninio và Robert Dassa, bị tuyên án tử hình (sau giảm xuống chung thân). Philippe Nathanson và Victor Levy nhận án 15 năm khổ sai, số còn lại cũng lĩnh những bản án dài hạn. Họ đã phải chịu đựng không chỉ nỗi kinh hoàng của nhà tù Ai Cập, mà còn cả sự thật cay đắng rằng quốc gia mà họ đã mạo hiểm tất cả để phục vụ, lại công khai chối bỏ họ.
Các tù nhân "Vụ án Ai Cập" chỉ được trả tự do sau cuộc Chiến tranh Sáu ngày năm 1967. Nhà nước mà họ phụng sự không chỉ bỏ mặc họ trong cơn hoạn nạn, mà còn công khai gọi họ là những kẻ dối trá và là nạn nhân của bộ máy tuyên truyền Ai Cập.
Sau khi trở về Israel, Robert Dassa, Marcelle Ninio, Philippe Nathanson, Victor Levy và những người khác đã phải trải qua nhiều năm đấu tranh gian khổ với nhà nước Israel. Họ yêu cầu được công nhận chính thức tư cách điệp viên hành động theo mệnh lệnh của quốc gia; được phục hồi danh dự để xóa bỏ vết nhơ "kẻ phản bội"; được bồi thường cho những năm tháng tuổi trẻ đã mất và sức khỏe bị tàn phá; và một lời xin lỗi công khai vì sự chối bỏ và dối trá của nhà nước.
"Susannah" là một chiến dịch không có người chiến thắng, chỉ có nạn nhân và những bài học đắt giá. Đây là câu chuyện về việc nỗi sợ hãi và sự hoài nghi của giới lãnh đạo cấp cao đã dẫn đến cái chết của những người lính bình thường. Khi khủng bố được dùng làm quân bài để thao túng các cường quốc, đã gây ra nỗi hổ thẹn quốc gia và những bi kịch cá nhân.
Chiến dịch này là một lời nhắc nhở: trong thế giới tình báo, cái giá của thất bại không chỉ đo bằng những bí mật bị rò rỉ, mà còn bằng sinh mệnh của những con người bị cuốn vào vòng xoáy với những lời hứa hão huyền và những khẩu hiệu yêu nước sáo rỗng.
Nghệ thuật đàm phán: Tổng thống Trump nói Iran đã gửi cho ông một lời đề nghị TỐT HƠN sau khi hủy chuyến thăm Pakistan
Chúng ta đang chứng kiến "Nghệ thuật đàm phán" diễn ra trực tiếp trên trường quốc tế…
Chỉ vài giờ trước khi phái viên dự kiến lên đường tham gia vòng đàm phán thứ hai với Iran tại Pakistan, Tổng thống Trump đã hủy bỏ kế hoạch này.
Mới đây, Tổng thống Trump đã giải thích lý do tại sao ông đưa ra quyết định đó.
Ông nói rằng Iran đã chứng tỏ họ không nghiêm túc khi đưa cho ông một bản báo cáo "đáng lẽ phải tốt hơn".
Vì vậy, để đáp lại, anh ấy đã hủy bỏ hoàn toàn chuyến đi.
Và, điều đáng kinh ngạc hơn nữa là, chưa đầy mười phút sau khi hủy bỏ hội nghị thượng đỉnh với Pakistan, Iran đã đưa ra cho ông ta một thỏa thuận tốt hơn! Thật bất ngờ.
Hãy xem những gì Tổng thống Trump đã nói ở đây:
🚨 HOLY CRAP! President Trump just revealed that after he canceled the Pakistan-Iran trip, they SENT HIM A BETTER DEAL
Art of the Deal, in motion.
"They gave us a paper that should have been better. And INTERESTINGLY, immediately when I canceled it, within 10 MINUTES, we got a… pic.twitter.com/EAChHxzCPg
TRỜI ƠI! Tổng thống Trump vừa tiết lộ rằng sau khi ông hủy chuyến đi Pakistan-Iran, họ đã GỬI CHO ÔNG MỘT THỎA THUẬN TỐT HƠN!
Nghệ thuật đàm phán, trong thực tiễn.
"Họ đưa cho chúng tôi một bài luận lẽ ra phải tốt hơn. Và điều thú vị là, ngay khi tôi hủy bỏ nó, chỉ trong vòng 10 phút, chúng tôi đã nhận được một bài luận mới tốt hơn nhiều!"
"Tôi sẽ làm việc với bất cứ ai điều hành mọi việc... nhưng không có lý do gì để chờ 2 ngày, để mọi người phải di chuyển 16, 17 tiếng... Khi nào họ muốn, họ có thể gọi cho tôi, chúng tôi nắm trong tay mọi thứ!"
"Toàn bộ vấn đề không hề phức tạp: Iran không thể sở hữu vũ khí hạt nhân." @RapidResponse47
🔥 Anh chàng này biết mình đang làm gì.
Hiện tại, chúng tôi chưa có bất kỳ thông tin chi tiết cụ thể nào về đề nghị mà Iran gửi cho Tổng thống Trump sau khi các cuộc đàm phán hòa bình bị hủy bỏ.
Tuy nhiên, Tổng thống Trump lưu ý rằng điều đó vẫn chưa đủ.
Theo CNN :
Ông ta khẳng định đã nhận được một lời đề nghị tốt hơn từ Iran chỉ vài phút sau khi cuộc đàm phán bị hủy bỏ.
“Họ đưa cho chúng tôi một bản báo cáo lẽ ra phải tốt hơn, và điều thú vị là, ngay lập tức, khi tôi hủy bỏ nó, chỉ trong vòng 10 phút, chúng tôi đã nhận được một bản báo cáo mới tốt hơn nhiều,” ông Trump nói với các phóng viên bên ngoài chuyên cơ Air Force One.
Khi phóng viên Kit Maher của CNN hỏi thêm chi tiết về những gì đã được đề nghị, Trump nói rằng "họ đã đề nghị rất nhiều nhưng vẫn chưa đủ."
Mỹ đang nắm giữ mọi lợi thế trong cuộc chiến này.
Dù bằng cách nào đi nữa, Tổng thống Trump cũng sẽ hoàn thành nhiệm vụ. Cho dù đó là một thỏa thuận đạt được sớm hay đơn giản chỉ là xóa sổ Iran thành từng mảnh.
Như thường lệ, chúng tôi sẽ tiếp tục cập nhật cho các bạn những thông tin mới nhất.
Trong dân gian và nhiều ghi chép hậu thế, Trương Hiến Trung thường bị gắn với hình tượng “ma vương giết người”, đặc biệt qua câu chuyện nổi tiếng về việc “nhập Thục đồ Thục” – tức tiến vào Tứ Xuyên rồi tàn sát dân chúng.
Trương Hiến Trung là một trong những thủ lĩnh khởi nghĩa nông dân nổi bật nhất vào cuối triều Minh, thường được nhắc đến cùng với Lý Tự Thành. Ông là người sáng lập chính quyền Đại Tây và cũng là vị hoàng đế duy nhất của triều đại ngắn ngủi này. Trong dân gian và nhiều ghi chép hậu thế, Trương Hiến Trung thường bị gắn với hình tượng “ma vương giết người”, đặc biệt qua câu chuyện nổi tiếng về việc “nhập Thục đồ Thục” – tức tiến vào Tứ Xuyên rồi tàn sát dân chúng.
Theo nhiều truyền thuyết và dã sử, Trương Hiến Trung đã gây ra vô số tội ác kinh hoàng. Người ta kể rằng quân của ông khi tiến qua đâu đều cướp bóc, giết chóc, hãm hiếp phụ nữ. Nhiều câu chuyện còn mô tả những hình phạt dã man, những hành vi tàn ác đến mức khó tin. Trong ký ức dân gian Tứ Xuyên, hình tượng ấy đã ăn sâu suốt hàng trăm năm, trở thành biểu tượng của sự khủng khiếp và hỗn loạn.
Thủ lĩnh nông dân Trương Hiến Trung.
Tại Thành Đô, từ lâu vẫn lưu truyền truyền thuyết về kho báu của Trương Hiến Trung. Đồng thời, những câu chuyện về sự tàn bạo của ông cũng được kể lại từ đời này sang đời khác. Trong nhiều ghi chép, mỗi khi hạ được một thành trì, quân đội của ông thường tiến hành cướp bóc, giết hại và bắt đi nhiều phụ nữ. Những mô tả này phản ánh nỗi kinh hoàng mà chiến tranh mang lại cho người dân trong giai đoạn loạn lạc.
Nhiều người lớn tuổi ở Tứ Xuyên từ lâu đã thuộc nằm lòng những câu chuyện về cuộc tàn sát này. Trong ký ức tập thể của người dân, thời kỳ cuối Minh đầu Thanh là một giai đoạn vô cùng bi thương, với chiến tranh liên miên, dân chúng ly tán, xác người chất đầy đồng nội. Những câu chuyện ấy, dù được truyền lại qua chính sử, dã sử hay truyền khẩu, đều để lại dấu ấn sâu sắc trong tâm thức nhiều thế hệ.
Một trong những biểu tượng nổi tiếng nhất gắn với Trương Hiến Trung là “bia Thất Sát”, trên đó khắc câu:
“Trời sinh vạn vật để nuôi người,
Người chẳng có gì báo đáp trời.
Giết! Giết! Giết! Giết! Giết! Giết! Giết!”
Tuy nhiên, tính xác thực của tấm bia này từ lâu đã gây nhiều tranh cãi trong giới sử học. Nhiều học giả cho rằng đây có thể là sản phẩm tuyên truyền của nhà Thanh hoặc là sự thêm thắt của hậu thế nhằm bôi đen hình ảnh Trương Hiến Trung.
Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, cần đặt Trương Hiến Trung trong bối cảnh lịch sử. Cuối triều Minh, Trung Hoa rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Thiên tai liên tiếp xảy ra, nạn đói lan rộng, triều đình mục nát, tham quan hoành hành, trong khi quân Thanh từ phương Bắc liên tục uy hiếp. Trong hoàn cảnh ấy, các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi.
Trương Hiến Trung và Lý Tự Thành đều xuất thân từ tầng lớp thấp kém trong xã hội. Họ đứng lên chống lại triều đình trong bối cảnh hàng triệu nông dân bị dồn đến bước đường cùng. Tuy nhiên, bản chất của các đội quân khởi nghĩa thời bấy giờ rất phức tạp. Đây không phải là những đội quân chính quy có kỷ luật nghiêm ngặt, mà phần lớn là tập hợp của nông dân, lưu dân, thậm chí cả thổ phỉ. Vì vậy, mỗi nơi họ đi qua thường kéo theo cướp bóc, giết chóc và hỗn loạn.
Năm 1644, Trương Hiến Trung tiến vào Tứ Xuyên. Trong bối cảnh triều Minh sụp đổ, chính quyền địa phương suy yếu, ông nhanh chóng chiếm được Trùng Khánh rồi tiến tới Thành Đô. Sau khi chiếm Thành Đô, ông lập ra chính quyền Đại Tây và xưng đế.
Vậy, Trương Hiến Trung có thực sự “đồ sát Tứ Xuyên” hay không?
Câu trả lời của giới sử học hiện đại là: có những cuộc tàn sát quy mô lớn, nhưng mức độ và trách nhiệm không hoàn toàn như truyền thuyết dân gian mô tả. Dân số Tứ Xuyên suy giảm nghiêm trọng trong giai đoạn này là sự thật. Tuy nhiên, nguyên nhân không chỉ do Trương Hiến Trung. Chiến tranh liên miên, nạn đói, dịch bệnh, các cuộc giao tranh giữa quân Đại Tây, quân Minh còn sót lại, quân Thanh, cùng sự tàn phá của các lực lượng địa phương đều góp phần vào thảm họa ấy.
Sau khi Trương Hiến Trung rút khỏi nhiều khu vực hoặc bị tiêu diệt năm 1647, quân Thanh tiến vào Tứ Xuyên. Những cuộc đàn áp, truy quét sau đó cũng gây tổn thất nặng nề cho dân chúng. Vì thế, việc quy toàn bộ thảm kịch của Tứ Xuyên cho riêng Trương Hiến Trung là một cách nhìn đơn giản hóa lịch sử.
Dẫu vậy, cũng không thể phủ nhận rằng quân đội của Trương Hiến Trung đã gây ra nhiều hành động tàn bạo. Trong thời đại chiến tranh, khi kỷ cương sụp đổ, bạo lực thường trở thành công cụ cai trị và răn đe. Trương Hiến Trung, giống như nhiều lãnh tụ quân sự khác trong lịch sử, vừa là sản phẩm của thời loạn, vừa là một trong những tác nhân làm cho thời loạn thêm khốc liệt.
Nhìn lại, hình tượng Trương Hiến Trung là sự pha trộn giữa sự thật lịch sử, truyền thuyết dân gian và tuyên truyền chính trị. Ông không hoàn toàn là một “ác quỷ” như những câu chuyện ly kỳ mô tả, nhưng cũng không phải là một anh hùng nông dân thuần túy. Ông là hiện thân của một thời đại đầy biến động, nơi ranh giới giữa cách mạng và hủy diệt, giữa giải phóng và tàn sát, thường rất mong manh.
Lịch sử, suy cho cùng, không nên chỉ được nhìn qua lăng kính trắng đen. Câu chuyện về Trương Hiến Trung và Tứ Xuyên là một lời nhắc nhở rằng trong những thời kỳ sụp đổ của trật tự cũ, người chịu tổn thương nặng nề nhất luôn là dân thường.
Quyền Bộ trưởng Hải quân Hung Cao đã phát hành một video tuyên bố sau khi John Phelan bị cách chức.
Như đã đưa tin trước đó , Bộ trưởng Hải quân John Phelan đã bị Bộ trưởng Chiến tranh Pete Hegseth sa thải vào thứ Tư.
Phát ngôn viên Lầu Năm Góc Sean Parnell thông báo, Thứ trưởng Hung Cao hiện giữ chức Quyền Bộ trưởng Hải quân.
Toàn văn tuyên bố từ Sean Parnell:
Bộ trưởng Hải quân John C. Phelan sẽ rời khỏi chính quyền, có hiệu lực ngay lập tức.
Thay mặt Bộ trưởng Chiến tranh và Thứ trưởng Chiến tranh, chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với Bộ trưởng Phelan vì những đóng góp của ông cho Bộ Quốc phòng và Hải quân Hoa Kỳ.
Chúng tôi chúc anh ấy mọi điều tốt đẹp trong những dự định tương lai.
Thứ trưởng Hùng Cao sẽ đảm nhiệm chức vụ Quyền Bộ trưởng Hải quân.
Ban đầu, không rõ liệu John Phelan bị sa thải hay tự nguyện từ chức, nhưng sau đó Fox News đưa tin rằng ông ấy thực sự đã bị sa thải.
Hôm thứ Năm, tuyên bố của Tổng thống Trump cho thấy Phelan đã tự nguyện rời đi.
Toàn văn tuyên bố của Tổng thống Trump:
John Phelan là một người bạn lâu năm và là một doanh nhân rất thành đạt, người đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giữ chức Bộ trưởng Hải quân của tôi trong năm qua.
John đã giúp chính quyền của tôi tái thiết lực lượng Hải quân đang suy yếu nhanh chóng và gần như bị bỏ rơi của "Sleepy Joe Biden". Giờ đây, nhờ John và tất cả những người đàn ông và phụ nữ tuyệt vời đã tận tâm và không mệt mỏi tham gia, chúng ta có lực lượng Hải quân mạnh nhất thế giới — VƯỢT TRỘI HƠN RẤT NHIỀU!
John Phelan thông minh, mạnh mẽ và được mọi người kính trọng, và mặc dù ông ấy đã quyết định rời khỏi vị trí Bộ trưởng Hải quân, tôi rất trân trọng những gì ông ấy đã làm và chắc chắn muốn ông ấy trở lại làm việc trong chính quyền Trump vào một thời điểm nào đó trong tương lai.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến John vì những cống hiến của ông cho nước Mỹ! Tổng thống Donald J. Trump
Vào cuối ngày thứ Năm, Tổng thống Trump cho biết Phelan có mâu thuẫn với một số người.
“Ông ấy là một người rất tốt… Ông ấy là người quyết đoán, và ông ấy từng có một số mâu thuẫn với một số người khác, chủ yếu là về việc đóng và mua tàu mới,” ông Trump nói.
“Tôi rất năng nổ trong lĩnh vực đóng tàu mới, nhưng không hiểu sao ông ấy lại không hòa hợp được với họ,” ông nói.
Hùng Cao đã phát hành một video tuyên bố vào thứ Bảy.
Chương trình "Thẻ Vàng Trump" (Trump Gold Card) từ khi được chính thức cho ra mắt vào tháng Mười Hai, năm 2025 cho đến nay chỉ mới cấp được cho một người, sau khi người này chi trả 1 triệu USD. Bộ trưởng Thương Mại Howard Lutnick cho biết tin này hôm thứ Năm, 23/4 và được NBC News cho biết.
Dù ông Lutnick không tiết lộ ra danh tính người được phê duyệt Thẻ Vàng này, nhưng bản tin độc quyền từ Bloomberg cho biết đó là ông Jeffrey Chao, người TQ.
Tổng Thống Trump giới thiệu bán chương trinh Trump Gold Card tại Phòng Bầu Dục vào tháng Chín, năm 2025. Sau lưng là Bộ trưởng Thương Mại Howard Lutnick. (Ảnh: Getty Images)
Ông Jeffrey Chao là người sáng lập ra công ty TP-Link Systems Inc., công ty kỹ nghệ sản xuất cáp Ethernet có trụ sở tại California. Ông Chao đã nộp đơn tham gia chương trình này, theo tin từ Bloomberg hồi tháng Ba năm nay, trích dẫn từ các nguồn tin xin giấu tên. Cũng theo Bloomberg, Bộ Thương Mại hiện đang cho điều tra công ty này do những lo ngại về an ninh quốc gia cóliên quan đến các mối liên kết chặ chẻ của họ với ĐCSTQ.
Con số "một người" này không như sự mong đợi so với lời lẽ mà ông Lutnick đã từng mạnh miệng nói trước đây. Đó là tin chính phủ Mỹ đã bán ra số lượng thẻ vàng này trị giá đến 1,3 tỷ USD chỉ trong vài ngày sau khi cho ra mắt. Trong lời điều trần trước Ủy Ban Hạ Viện Hoa Kỳ hôm thứ Năm tuần này, ông Lutnick tỏ ra hài lòng với kết quả này, dù mới chỉ có một trường hợp được duyệt xét chấp thuận. Ông cho biết, hiện đang có "hàng trăm đơn khác đang chờ được xem xét".
Đây là ý tưởng về thương mại của Tổng Thống Donald Trump, cho phép người ngoại quốc chi trả tối thiểu 1 triệu USD để được phép đến cư trú và làm việc hợp pháp tại Hoa Kỳ.
Tổng Thống Trump đã thúc đẩy ý tưởng bán Thẻ Vàng vào năm ngoái với lập luận cho rằng, biện pháp này sẽ thu hút nhân tài nước ngoài đến Hoa Kỳ và sẽ làm đầy ngân khố liên bang. Ông Trump đã giới thiệu tấm Thẻ Vàng cho phóng viên khi đứng trong Không Lực số Một và nói: "Về nguyên tắc, đây chính là tấm thẻ xanh được nâng cấp lên một tầm cao mới".
Mức lệ phí được đề nghị ban đầu để mua thẻ này là 5 triệu USD, sau đó tổng thống cho giảm xuống còn 1 triệu USD. Thẻ Vàng được thiết kế nhằm thay thế cho chương trình EB-5, một chương trình đã tồn tại hàng thập niên với mục đích cấp thị thực Hoa Kỳ cho những cá nhân bỏ tiền đầu tư khoảng 1 triệu USD vào một cơ sở kinh doanh có ít nhất là 10 nhân viên.
"Thẻ Vàng Trump" bị kiện
Theo phân tích của tờ Forbes, chương trình "Thẻ Vàng Trump" (Trump Gold Card) được cho thiết lập thông qua một sắc lệnh hành pháp vào tháng Chín, cấp thị thực EB-1 hoặc EB-2 cho các ứng viên được phê duyệt. Theo quy định của pháp luật, thị thực EB-1 được dành riêng cho những người nhập cư có "năng lực thật phi thường", còn EB-2 dành cho những người có "năng lực xuất sắc". Số lượng các loại thị thực này hàng năm đều bị giới hạn ở một tỷ lệ nhất định trong tổng số thị thực được Hoa Kỳ cấp.
Chương trình này hiện đang phải đối mặt với nhiều vụ kiện tụng. Theo The New York Times, vào tháng 2/2026, một nhóm người nhập cư đã đệ đơn kiện chính quyền ông Trump, yêu cầu Chánh án cho đình chỉ chương trình này với lập luận cho rằng, nó ưu tiên cho sự giàu có hơn là trí tuệ hay năng lực.
Hãng tin Forbes cũng cho hay, đầu tháng 4 này, một nhóm các tổ chức giám sát chính phủ cũng đã khởi kiện nhằm buộc chính phủ phải cho công bố ra các hồ sơ có liên quan đến chương trình thị thực mới này, theo lời ông Kevin Bell, đồng sáng lập của nhóm Free Information Group (một trong số các nguyên đơn nói trên). Trong một thông cáo báo chí, các tổ chức này tố cáo chính phủ liên bang đang giải quyết việc cấp thị thực này chẳng khác nào như việc cho bán "thẻ thành viên Mar-a-Lago trị giá hàng triệu USD" của cá nhân ông Trump.
Chính quyền Hoa Kỳ đã bắt đầu tiếp nhận hồ sơ ghi danh cho chương trình này từ tháng Mười Hai, năm 2025. Người nộp đơn phải đóng khoản lệ phí ghi danh là 15,000 USD cùng một khoản tặng phẩm trị giá 1 triệu USD cho Bộ Thương Mại để đổi lấy một con đường nhập cư ưu tiên, chính là Thẻ Vàng với tư cách cư trú hợp pháp tại Hoa Kỳ.
Các công ty tuyển dụng nhân tài cũng có thể đứng ra bảo lãnh cho một hoặc nhiều nhân viên thông qua chương trình "Thẻ vàng Trump cho doanh nhân" ("Trump Corporate Gold Card"), vốn yêu cầu khoản lệ phí xét duyệt là 15,000 USD/đầu người và khoản tặng phẩm trị giá 2 triệu USD, cộng thêm các khoản lệ phí duy trì và chuyển nhượng hàng năm.
Một năm trước đây, tại một cuộc họp Nội các, ông Lutnick từng có phát biểu cho rằng tấm thẻ vàng này sẽ mang lại 1,000 tỷ USD mức doanh thu và giúp cân đối ngân sách liên bang. Hiện tại, khoản công nợ quốc gia đang ở mức 31,300 tỷ USD. Bên cạnh đó, các phân tích dự báo độc lập từ Ủy Ban Trách Nhiệm Ngân Sách Liên Bang cho thấy mức thâm hụt ngân sách trong năm tài khóa này sẽ vào khoảng 2,000 tỷ USD.
Khi được hỏi về việc số tiền thu được sẽ được sử dụng như thế nào, ông Lutnick cho biết: "Việc đó sẽ do chính phủ quyết định, và các điều khoản của chương trình đều nhằm mục đích mang lại sự thịnh vượng cho Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ".
Trang web của chương trình Trump Gold Card (trumpcard.gov) gây ấn tượng với hình ảnh hào nhoáng, nổi bật dòng khẩu hiệu "Mở Khóa Cuộc Sống Ở Mỹ" nằm ngay phía trên hình ảnh một tấm Thẻ Vàng. Trên thẻ in gương mặt nghiêm nghị của ông Trump, cạnh hình ảnh chim đại bàng đầu trắng, tượng Nữ Thần Tự Do và chữ ký đặc trưng kiểu "hàng rào biên giới" của ông Trump. Trang web cũng quảng cáo mạnh về tấm "Thẻ Bạch Kim Trump" (Platinum Trump) trị giá 5 triệu USD sắp cho ra mắt, cho phép được lưu trú tại Mỹ đến 270 ngày mà không phải chịu thuế đối với các khoản thu nhập phát sinh ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ.
(Minh họa)
Tổng thống Trump đã thông báo với Axios, Fox News rằng, ông đã cho hủy bỏ chuyến đi của các đặc phái viên Steve Witkoff và Jared Kushner đến Islamabad vào giờ chót do quan điểm cứng rắn của Iran trong các cuộc đàm phán thỏa thuận hòa bình.
Phái đoàn Hoa Kỳ dự kiến sẽ gặp Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi trong một chuyến đi lần thứ 2 nhằm phá vỡ sự bế tắc ngoại giao và tạo ra động lực mới cho một thỏa thuận.
"Tôi thấy chẳng có ích gì khi cử họ đi chuyến bay kéo dài 18 giờ trong tình hình hiện tại . Dài quá rồi. Chúng ta cũng có thể làm điều đó qua điện thoại. Người Iran có thể gọi cho chúng tôi nếu họ muốn". Đó là bài viết của ông Trump trên mạng xã hội vào hôm thứ Bảy 25/4.
Khi được hỏi, liệu điều đó có nghĩa là ông sẽ tiếp tục phát động chiến tranh hay không, ông Trump nói: "Không. Nó không có nghĩa như vậy. Chúng tôi chưa nghĩ đến nó,
Chúng tôi có tất cả các lá bài trong tay. Chúng ta sẽ không đến đó để ngồi nói chuyện vô tích sự".
Ông Araghchi đã gặp gở Thủ tướng Pakistan vào hôm thứ Bảy tại Islamabad cùng viên chỉ huy quân đội và Ngoại trưởng, những người đang đứng ra làm trung gian hòa giải giữa các bên.
Nhưng cuộc nói chuyện này đã kết thúc mà không có tiến triển đáng kể nào. Araghchi đã rời khỏi thủ đô Islamabad và không đưa ra lời cam kết sẽ gặp 2 ông Witkoff và Kushner nếu họ bay đến Pakistan.
Ngoại trưởng Iran bày tỏ trong cuộc gặp và cho rằng Iran yêu cầu dỡ phải bỏ lệnh phong tỏa Hải quân của Mỹ như một điều kiện tiên quyết cho các cuộc đàm phán, nếu có.
Khoảng một giờ sau khi ông Araghchi rời Islamabad, ông Trump quyết định cho hủy bỏ chuyến đi của phái đoàn Mỹ.
Araghchi có viết trong bài cho đăng on X, cảm ơn chính phủ Pakistan vì những nỗ lực trung gian của họ.
Diễn Đàn Người Việt Hải Ngoại. Tự do ngôn luận, an toàn và uy tín. Vì một tương lai tươi đẹp cho các thế hệ Việt Nam hãy ghé thăm chúng tôi, hãy tâm sự với chúng tôi mỗi ngày, mỗi giờ và mỗi giây phút có thể. VietBF.Com Xin cám ơn các bạn, chúc tất cả các bạn vui vẻ và gặp nhiều may mắn.
Welcome to Vietnamese American Community, Vietnamese European, Canadian, Australian Forum, Vietnamese Overseas Forum. Freedom of speech, safety and prestige. For a beautiful future for Vietnamese generations, please visit us, talk to us every day, every hour and every moment possible. VietBF.Com Thank you all and good luck.