Kế thừa tư duy cải cách của vua Minh Mạng, vua Thiệu Trị đặc biệt quan tâm tiếp thu kỹ thuật đóng tàu hiện đại từ phương Tây.
Vua Thiệu Trị, tên thật Nguyễn Phúc Miên Tông (1807–1847), con trưởng vua Minh Mạng, lên ngôi năm 1841, trở thành vị vua thứ ba triều Nguyễn. Được giáo dục bài bản trong hoàng tộc, ông sớm tiếp thu kinh nghiệm trị quốc từ Gia Long và Minh Mệnh. Sau khi đăng quang, Thiệu Trị xác lập bốn nguyên tắc trị nước: kính trời, noi tổ tiên, chăm chính sự và yêu dân.
Dưới triều Vua Thiệu Trị, việc xây dựng và hiện đại hóa thủy quân tiếp tục được coi là trụ cột của quốc phòng. Kế thừa nền tảng từ Gia Long và Minh Mạng, nhà vua chú trọng củng cố tổ chức, nâng cấp tàu thuyền, tiếp thu kỹ thuật mới từ phương Tây và tăng cường huấn luyện, qua đó giữ vững thế chủ động trên biển và bảo vệ hiệu quả vùng biên cương ven hải của triều Nguyễn.
Kế thừa thành tựu của hai triều trước, Thiệu Trị đặc biệt chú trọng xây dựng thủy quân. Ông củng cố tổ chức, tăng cường trang bị, mở rộng lực lượng tại các vùng biển trọng yếu như Quảng Nam và Gia Định, đồng thời điều chỉnh quân số trên tàu cho phù hợp yêu cầu vận chuyển và chiến đấu. Nhà vua trực tiếp soạn thảo quy chế thủy chiến, chỉ đạo thao diễn định kỳ, thường xuyên thân chinh dự tập trận để khích lệ binh sĩ.
Không chỉ huấn luyện trong nước, Thiệu Trị còn cho thuyền ra nước ngoài vừa diễn tập hải trình, vừa kết hợp giao thương. Song song đó, ông đặc biệt quan tâm đến việc bảo dưỡng, đóng mới tàu thuyền, coi đây là nền tảng sức mạnh của thủy quân triều Nguyễn.

Vua Thiệu Trị. Ảnh minh hoạ bởi AI.
Theo Viện Sử học Việt Nam, kế thừa tư duy cải cách của vua Minh Mạng, Thiệu Trị đặc biệt quan tâm tiếp thu kỹ thuật đóng tàu hiện đại từ phương Tây. Năm 1844, triều đình cử Tham tri Đào Trí Phú sang châu Âu mua một tàu hơi nước trị giá hơn 280.000 quan, lớn nhất trong thủy quân triều Nguyễn, được đặt tên là Điện Phi vì tốc độ vượt trội, đi nhanh như bay, hơn cả ngựa phi
Tiếp đó, nhà vua cho tháo dỡ tàu máy Yên Phi từ thời Minh Mạng, yêu cầu quan quân nghiên cứu cấu tạo để đóng mới tàu Vân Phi, đồng thời chế tạo thêm tàu cỡ nhỏ Hương Phi. Khi việc đóng tàu hoàn tất, Thiệu Trị nhấn mạnh với Bộ Công rằng tàu hơi nước tuy do phương Tây chế tạo, chủ yếu dùng cho thương mại, nhưng nếu nắm vững kỹ thuật thì có thể vận dụng hiệu quả cho quân sự. Ông cho rằng việc đóng tàu máy đòi hỏi tư duy cơ khí chặt chẽ, phải hiểu bản chất bộ máy, không thể chỉ sao chép hình thức bên ngoài.
Sử triều Nguyễn ghi nhận vua Thiệu Trị là bậc quân vương thông tuệ, tận tâm với chính sự, am tường Nho học và có niềm say mê đặc biệt với thi ca. Ngay trong năm đầu trị vì, ông đã bộc lộ khả năng suy xét sắc sảo qua một sự việc được chép trong Đại Nam thực lục. Tháng ba nhuận năm 1841, một lính đội Kim Sang tên Trương Văn Tài nhờ sở Thị vệ dâng ngà voi lên vua, tâu rằng mình bắn trúng voi ở rừng Quảng Trị, con voi chết, rồi người tiều phu Hồ Như Đổng nhặt được ngà và đem nộp. Câu chuyện tưởng như công trạng ấy đã sớm bị nhà vua nhìn thấu, qua đó cho thấy bản lĩnh và sự tỉnh táo của Thiệu Trị trước những lời tâng bốc của bề tôi.
Khi đó, có người lính thuộc đội Kim Sang là Trương Văn Tài mang ngà voi nhờ sở Thị vệ dâng lên vua, nói rằng: “Mười hôm trước đây tôi đi bắn ở trong rừng thuộc tỉnh Quảng Trị có bắn được con voi chạy lồng đi, sau nó chết; người kiếm củi trên núi là Hồ Như Đổng lấy được ngà, tìm mãi mấy ngày mới bắt được, xin đem về nộp”.
Vua ngờ là Tài nói dối, sai xét lại cặp ngà, thì thấy ngà khô ráo, không có mùi tanh. Nhà vua sai bộ Binh cật vấn lại, Tài vẫn khai như trước. Đại thần Trương Đăng Quế mới tâu hộ cho rằng: “Việc này tầm thường, tư đi hỏi lại mãi, không khỏi làm phiền nhiễu cho dân”.
Nhà vua nghe vậy mới phán rằng: “Ý ta không thế, việc tuy nhỏ, nhưng quan hệ rất to. Theo lệ trước giờ, trong bọn lính Túc vệ, được đi săn bắn trong rừng núi ở nơi kỳ phụ (tức vùng đất lân cận kinh kỳ), cốt để trừ giống thú dữ cho dân ở được yên, tập bắn đề phòng khi sai phái, còn việc có được ngà voi hay không, không kể làm gì. Tài bắn được ngà voi, chưa quá 10 ngày, sao ngà lại khô ráo như thế? Sao biết con voi mà người kiếm củi trên núi bắt được là voi của Tài đã bắn? Nếu có cậy thế, nhân việc sai phái dọa nạt dân thường, thì cái tệ ấy rất không thể gây cho lớn lên được mãi”.
Do đó, nhà vua lập tức sai giải Tài về tỉnh Quảng Trị triệt để tra xét. Sau quá trình điều tra, tỉnh thần Đặng Đức Thiệm dâng sớ tâu rằng: “Tài quả nói dối, ngà voi ấy người kiếm củi trên núi bắt được đã hơn 2 tháng rồi, Tài dọa nạt cướp lấy, người kiếm củi không dám tranh lại”.
Vua Thiệu Trị và người con cả ăn chơi, buông thả
Trong bảy năm trị vì, vua Thiệu Trị luôn canh cánh nỗi lo người con trưởng Hồng Bảo thiếu tài đức để kế vị. Một lần thử tài đối đáp, Hồng Bảo buột miệng đối câu “Bắc sứ lai triều” bằng “Tây Sơn phục quốc”, khiến triều đình rùng mình.
Một hôm vua Thiệu Trị thử tài đối đáp của các con, bèn ra câu đối rằng: Bắc sứ lai triều. Hồng Bảo nghe vậy nhanh nhảu đối lại không cần suy nghĩ: Tây Sơn phục quốc.
Nghe Hồng Bảo đối vậy, ai nghe cũng lạnh da gà! Vua Thiệu Trị thì bình tĩnh gượng cười và răn đe: Tây Sơn mà phục quốc thì cả bà con mi không còn đất mà chôn! Lần sau có đối cũng phải suy nghĩ, gìn giữ ý tứ nghe con. Khi ấy Hồng Bảo mới sực tỉnh ra và biết mình đã lỡ mồm, vụng miệng, nên thẹn với các hoàng đệ vô cùng.
Thiệu Trị phải nghiêm khắc răn dạy, song Hồng Bảo vẫn không sửa đổi, tiếp tục ăn chơi, buông thả.
Đến năm 1847, khi nhà vua lâm bệnh nặng, Hồng Bảo vẫn mải mê nơi ca lâu, càng khiến Thiệu Trị đau lòng. Trước lúc băng hà, ông triệu các đại thần, khẳng định Hồng Bảo không đủ tư cách nối ngôi và quyết định truyền ngôi cho người con thứ hai là Hồng Nhậm (sau là vua Tự Đức) – người thông minh, hiếu học và có phẩm chất xứng đáng. Sau đó, Thiệu Trị trao ấn kiếm cho Hồng Nhậm, chính thức định đoạt việc phế trưởng lập thứ để giữ yên xã tắc.
Vietbf @ Sưu tầm