(Petrotimes) - Nhà nghiên cứu Lucio Blanco Pitlo III thuộc Đại học Philippines, ngày 7/7 cho rằng, Trung Quốc và Philippines có thể cùng khai thác dầu khí tại Biển Đông để giải quyết xung đột hiện nay. Để làm được điều này, cả phía Bắc Kinh và Manila phải làm gì?

Bãi cạn Scarborough cách đảo Luzon (Philippines) 230 km trong khi cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) đến 1.200 km
Ông Pitlo cho rằng hướng đi cần thiết là các nước tham gia thảo luận một cách chân thành để giải quyết các bất đồng, và chủ nghĩa thực dụng nên được ưu tiên hơn chủ nghĩa dân tộc. Làm vậy, các bên mới đề cao được các yếu tố kinh tế và an ninh. Việc phối hợp thăm dò tại Biển Đông đối với một nước giàu tài nguyên nhưng thiếu vốn, yếu về cơ sở hạ tầng như Philippines sẽ mang lại nhiều lợi ích như thu hút thêm vốn đầu tư và nắm bắt các công nghệ cần thiết để khai thác tối đa các nguồn tài nguyên. Phối hợp thăm dò và phát triển nguồn tài nguyên có thể hạn chế xung đột và căng thẳng, từ đó giảm sức ép trong việc tăng cường khả năng quốc phòng.
Bên cạnh đó, phối hợp thăm dò dầu và khí đốt với Philippines tạo cơ hội cho Trung Quốc có một nguồn năng lượng với giá trị tức thời và một vài lợi ích chính trị. Bằng cách thiết lập chương trình phát triển nguồn lực chung với một láng giềng đang có tranh chấp lãnh hải, Trung Quốc có thể xây dựng hình ảnh của mình như một láng giềng tốt và một cường quốc khu vực và thế giới có trách nhiệm. Cách tiếp cận cộng tác này sẽ làm dịu nỗi lo sợ của nhiều nước về khả năng Trung Quốc đặt mục tiêu đạt được sự kiểm soát hoàn toàn và độc quyền ở Biển Đông.
Hợp tác này cũng sẽ cung cấp cho Bắc Kinh một nguồn năng lượng đáng kể, giảm tình trạng nhập khẩu dầu và khí đốt từ Trung Đông, tăng cường ổn định trong hành lang lãnh hải và xây dựng được hình ảnh của mình trong khu vực cũng như quốc tế. Nếu thỏa thuận thành công, nó thậm chí có thể là khởi đầu cho các nỗ lực hợp tác tương tự trong khai thác các nguồn tài nguyên hydrocarbon ở khu vực tranh chấp. Sự phối hợp thăm dò tài nguyên là cách để tăng cường sự ổn định và an ninh ở các khu vực tranh chấp, giảm nguy cơ xung đột, thúc đẩy hợp tác trong việc khai thác nguồn tài nguyên bền vững, bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học và phối hợp ứng phó với thảm họa tự nhiên.

Hai tàu tuần giám của Trung Quốc chặn giữa tàu chiến của Philippines và 8 tàu đánh cá trái phép của Trung Quốc ở Bãi cạn Scarborough ngày 13/4/2012
Thỏa thuận Biển Timo năm 2002 giữa Timo Lexte (nước tách khỏi Indonesia năm 1999) và Úc là một ví dụ điển hình của sự phối hợp quản lý nguồn tài nguyên. Theo thỏa thuận này, hai bên đã thiết lập một Khu vực phát triển dầu khí chung trong các vùng lãnh hải có tranh chấp giữa hai nước. Thỏa thuận cũng dàn xếp chủ quyền lãnh hải của hai bên do nó không vạch ra một đường biên giới trên biển cụ thể nào. Một ban điều hành đã được thiết lập để điều hành mọi hoạt động liên quan tới dầu khí trong khu vực tranh chấp, với số đại diện của hai bên là ngang nhau. Úc đã có sự nhượng bộ rất lớn cho Timo Lexte theo tỷ lệ 90-10, theo đó Dili có 90% và Canberra chỉ nhận 10% lợi nhuận.
Thỏa thuận được ký vào ngày Timo Lexte giành độc lập hoàn toàn là sự hỗ trợ rất lớn đối với Timo Lexte, hứa hẹn những lợi ích kinh tế bền vững để phục vụ tiến trình xây dựng đất nước. Thỏa thuận cũng giúp Timo Lexte tránh được khoản chi phí khổng lồ để phát triển khả năng quốc phòng nhằm kiểm soát chủ quyền lãnh hải, điều mà Timo Lexte không thể làm được lúc bấy giờ. Với Úc, thỏa thuận này mang lại một nguồn thu nhập ổn định từ dầu và khí đốt, trong khi khẳng định được hình ảnh của Canberra như một láng giềng thân thiện.

Một giàn khoan dầu của Philippines ở Biển Đông
Tuy nhiên, một trong những “cạm bẫy” của Thỏa thuận Biển Timo từ cách nhìn của Dili là các nguồn tài nguyên được khai thác từ một trong những khu khai thác lớn thuộc vùng phát triển chung là mỏ Bayu-Undan, đều được xử lý ở Úc, khiến Dili khó kiểm soát về đầu ra của sản phẩm, dù có nhận được 90% lợi nhuận.
Để tránh những điều như vậy, một thỏa thuận nhiên liệu hydrocarbon chung giữa Philippines và Trung Quốc nên vạch ra những hoạt động có lợi cho Philippines do nước này ở gần các vùng nước giàu hydrocarbon tiềm năng hơn. Bằng cách đó, Philippines có thể cải thiện ngành tài nguyên, tạo thêm việc làm, cung cấp năng lượng bền vững và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Các công ty năng lượng do nhà nước quản lý của Trung Quốc như CNOOC, CNPC và Sinopec có vốn, công nghệ và chuyên gia để giúp PNOC và các công ty năng lượng địa phương của Philippines phát triển ngành công nghiệp năng lượng bản địa, giảm sự phụ thuộc của nước này vào dầu nhập khẩu.
Cộng đồng quốc tế đang theo dõi sát sao những diễn biến tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines trong vụ bãi Scarborough. Nếu Trung Quốc hành động quá xông xáo, nhiều nước láng giềng sẽ lo ngại về việc nước này sẵn sàng sử dụng các chiến lược mạnh tay. Trong khi đó, Manila cũng đang muốn thể hiện rằng họ có thể thực thi một chính sách ngoại giao độc lập mà không bị coi là một phần của “âm mưu lớn” chống Trung Quốc vốn sẽ gây ảnh hưởng tới hình ảnh của Manila.
Phối hợp phát triển nguồn tài nguyên là biện pháp hợp lý để Manila và Bắc Kinh giải quyết những tranh chấp lãnh thổ. An ninh năng lượng, các mối quan hệ hòa hợp, tạo hình ảnh quốc tế tốt và trên hết là hòa bình, ổn định tại một trong những tuyến đường hàng hải đông đúc nhất thế giới, tất cả đang là những thách thức. Philippines và Trung Quốc có thể chứng minh rằng các láng giềng có thể giải quyết hòa bình các tranh chấp, và dù quyết định có thể đối mặt với sự phản đối trong nước về ngắn hạn, nhưng có thể cải thiện ổn định khu vực về dài hạn.
Nh.Thạch (Tổng hợp)