Hòa Thân cũng không thể công khai ngả hẳn về phía Gia Khánh khi Càn Long còn sống. Nếu làm vậy, ông sẽ bị Càn Long nghi ngờ là kẻ hai lòng. Với một vị quân vương đa nghi như Càn Long, đó chẳng khác nào tự đào mồ chôn mình.
Nhắc đến Hòa Thân, người ta thường nghĩ ngay đến một đại tham quan khét tiếng, nhưng đồng thời cũng phải thừa nhận rằng ông là một nhân vật cực kỳ thông minh và đầy năng lực. Khối tài sản khổng lồ mà Hòa Thân tích lũy được dưới triều Thanh, dĩ nhiên không thể so sánh với của cải do thương nhân chân chính tạo dựng. Phần lớn đều đến từ quyền lực và nạn tham nhũng. Tuy nhiên, nếu chỉ xem ông là một kẻ tham lam đơn thuần thì e là quá coi nhẹ tài năng của nhân vật này.
Sở dĩ Hòa Thân có thể trở thành đại thần quyền khuynh triều dã là bởi ông rất được Càn Long Đế sủng tín. Trong suốt những năm cuối triều Càn Long, ông gần như nắm giữ vị trí “dưới một người, trên vạn người”, kiêm nhiệm nhiều chức vụ trọng yếu, quyền thế lẫy lừng.

Hòa Thân là sủng thần số 1 của hoàng đế Càn Long.
Điều đó cho thấy Hòa Thân tuyệt đối không phải hạng người tầm thường. Ông tham tiền, nhưng không phải khoản nào cũng dám lấy. Trong việc xử lý công vụ, ông rất sắc sảo, biết cân nhắc lợi hại. Quan trọng hơn, ông hiểu Càn Long gần như hơn bất kỳ ai trong triều.
Có một ví dụ rất điển hình. Mỗi lần Càn Long tuần du Giang Nam, quốc khố thường bị tiêu hao nặng nề. Khi ngân khố triều đình eo hẹp, Hòa Thân thường tự bỏ tiền hoặc xoay xở tài chính để đảm bảo chuyến đi của hoàng đế không bị gián đoạn. Đây không đơn thuần là hành động lấy lòng, mà còn cho thấy ông hiểu rõ tâm lý của Càn Long và biết cách giải quyết vấn đề theo hướng có lợi nhất cho bản thân.
Thế nhưng, một người khôn ngoan như vậy cuối cùng vẫn bị Gia Khánh xử tử. Điều này khiến nhiều người thắc mắc: vì sao Hòa Thân không sớm nịnh bợ Gia Khánh để giữ lại một con đường sống?
Thực ra, Hòa Thân không phải chưa từng làm như vậy. Ngay từ khi Gia Khánh còn là hoàng tử, ông đã tìm cách xây dựng quan hệ. Nhưng vấn đề là Gia Khánh chưa bao giờ thực sự chấp nhận ông.
Nguyên nhân rất đơn giản. Hòa Thân là người của Càn Long, và quyền lực của ông hoàn toàn dựa vào sự sủng ái của vị hoàng đế này. Trong những năm cuối đời, dù Gia Khánh đã chính thức lên ngôi, Càn Long vẫn giữ thân phận Thái thượng hoàng và tiếp tục nắm thực quyền. Khi ấy, Hòa Thân vẫn dựa vào uy thế của Càn Long, thậm chí địa vị thực tế còn lấn át cả tân hoàng đế.
Đối với Gia Khánh, đây là điều khó có thể chấp nhận. Một hoàng đế ngồi trên ngai vàng nhưng quyền lực bị cha mình và một đại thần thao túng, chẳng khác nào “hữu danh vô thực”. Sự bất mãn đối với Hòa Thân vì thế ngày càng sâu sắc.
Hơn nữa, Hòa Thân cũng không thể công khai ngả hẳn về phía Gia Khánh khi Càn Long còn sống. Nếu làm vậy, ông sẽ bị Càn Long nghi ngờ là kẻ hai lòng. Với một vị quân vương đa nghi như Càn Long, đó chẳng khác nào tự đào mồ chôn mình.
Nói cách khác, Hòa Thân rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan. Trung thành tuyệt đối với Càn Long thì đắc tội với Gia Khánh; còn nếu quá thân cận với Gia Khánh, ông lại mất lòng Càn Long. Trong hoàn cảnh ấy, lựa chọn an toàn nhất của ông là tiếp tục bám chặt vào Càn Long.
Sau khi Càn Long qua đời, Hòa Thân lập tức mất đi chỗ dựa lớn nhất. Gia Khánh không còn bất kỳ lý do gì để dung thứ cho một đại thần vừa tham nhũng, vừa quyền thế ngập trời, lại từng lấn át cả hoàng quyền.
Quan trọng hơn, Gia Khánh cần một hành động mạnh mẽ để khẳng định uy quyền của mình. Việc xử lý Hòa Thân không chỉ giúp triều đình thu hồi một khối tài sản khổng lồ, mà còn là lời cảnh cáo đanh thép gửi tới toàn bộ quan lại: từ nay, triều đại đã thực sự thuộc về Gia Khánh.
Vì thế, cái chết của Hòa Thân gần như là điều không thể tránh khỏi. Không phải vì ông không đủ thông minh, mà bởi trong cuộc chuyển giao quyền lực giữa hai đời hoàng đế, ông đã trở thành biểu tượng của quyền lực cũ – một biểu tượng mà vị tân quân nhất định phải xóa bỏ.
Suy cho cùng, trong chế độ quân chủ, dù quyền thế đến đâu, thần tử vẫn chỉ là thần tử. Khi hoàng đế muốn lập uy, người đứng cao nhất, nổi bật nhất thường là người đầu tiên phải ngã xuống. Hòa Thân hiểu điều đó, nhưng hiểu không có nghĩa là tránh được. Bởi trước hoàng quyền tuyệt đối, ngay cả kẻ khôn ngoan nhất đôi khi cũng không thể tự quyết định số phận của mình.
Nhắc tới cái tên Hòa Thân, hậu thế thường nhớ tới hình ảnh một đại tham quan dưới triều của hoàng đế Càn Long với những thủ đoạn vô cùng tinh vi.
Hòa Thân (1750 – 1799), nguyên tên là Thiện Bảo, người tộc Nữu Hỗ Lộc (Niohuru) thuộc Chính Hồng kỳ Mãn Châu, tên đầy đủ là Nữu Hỗ Lộc Hòa Thân. Xuất thân là một công tử Mãn Châu (Trung Quốc), gia thế nhà Hòa Thân tuy không hiển hách song cũng là gia tộc quân công.
Năm lên 3 tuổi, mẹ ruột của ông qua đời sau khi sinh hạ em trai. 6 năm sau, Hòa Thân lại phải chịu cảnh mồ côi cha. Thuở nhỏ, do quan hệ bất hòa với mẹ kế nên phải chịu nhiều vất vả.
Theo cuốn Toàn thư lịch sử Trung Quốc, năm 1761, vì học giỏi, anh em Hòa Thân được tuyển chọn vào Hàm An Cung. Đây là trường dành riêng cho con em quan lại. Đặc biệt, phải là con cháu Bát Kỳ mới được vào học. Tuy nhiên, học phí của Hàm An Cung rất cao. Cha của hai anh em là quan thanh liêm nên gia sản không có nhiều, vì thế Hòa Thân đã phải bán đi tài sản cha để lại để lấy tiền đi học.
Ngay từ khi đi học, Hòa Thân đã rất chú trọng học các thứ tiếng như Mãn, Hán, Mông Cổ, Tây Tạng, thuộc nằm lòng Tứ thư, Ngũ kinh. Đặc biệt ông ta còn học cách bắt chước kiểu chữ của Càn Long để lấy thiện cảm từ hoàng đế.
Năm 1774, Hòa Thân phải nộp tiền để được nhận làm tam đẳng thị vệ - một chức vị rất nhỏ bé. Nhờ sự khôn khéo của mình, Hòa Thân dễ dàng có được sự tín nhiệm của Càn Long và thành công đạt đến đỉnh cao của quyền lực và tiền bạc.
Hoà Thân được phong là Nhất đẳng Trung Tương công, giữ chức Văn Hoa điện Đại học sĩ, Nội các thủ tịch Đại học sĩ, Lĩnh ban quân cơ Đại thần, Lại bộ Thượng thư, Hộ bộ Thượng thư, Hình bộ Thượng thư, Lý phiên viện Thượng thư, Nội vụ phủ Tổng quản, Hàn lâm viện Chưởng viện học sĩ... Đây đều là những chức quan quan trọng của triều đình và một mình Hòa Thân kiêm nhiệm hết. Qua đây, ta có thể thấy được sự ưu ái của Càn Long đối với Hòa Thân.
Vietbf @ Sưu tầm