
Ngày 20 tháng 4 năm 2026, Trung Quốc triển khai tàu sân bay Liêu Ninh qua eo biển Đài Loan vào Biển Đông, đồng thời điều một nhóm tác chiến hải quân qua eo biển Yokota vào Tây Thái Bình Dương. Ảnh do Quân đội Trung Quốc cung cấp qua báo Nhân dân Nhật báo.
Ngày 17 tháng 4, tàu khu trục JS Ikazuchi của Nhật Bản đã đi qua eo biển Đài Loan, đây là lần thứ tư một tàu chiến Nhật Bản đi qua khu vực này kể từ tháng 9 năm 2024 và là lần đầu tiên kể từ khi Thủ tướng Takaichi Sanae nhậm chức.
Ngày 17 tháng 4 càng làm trầm trọng thêm phản ứng của Bắc Kinh . Đây là ngày kỷ niệm Hiệp ước Shimonoseki năm 1895, theo đó Nhật Bản buộc Trung Quốc phải nhượng lại Đài Loan, và báo Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA Daily) đã cáo buộc Tokyo "làm tổn thương tình cảm của người dân Trung Quốc" bằng cách chọn ngày này. Bắc Kinh, vốn tuyên bố eo biển này là vùng nội thủy của Trung Quốc chứ không phải là đường thủy quốc tế, đã đáp trả bằng một chiến dịch hải quân phối hợp hai mũi nhọn mà các nhà phân tích cho rằng vượt xa phản ứng trước một hành động khiêu khích đơn lẻ.
Việc tàu đi qua eo biển Đài Loan cũng thể hiện sự đồng thuận của Nhật Bản với lập trường tự do hàng hải của Washington. Bộ Ngoại giao Trung Quốc gọi đây là một “âm mưu nguy hiểm” nhằm can thiệp quân sự vào eo biển Đài Loan, và người phát ngôn Guo Jiakun tuyên bố trong một cuộc họp báo rằng vấn đề Đài Loan là “lằn ranh đỏ” không thể thương lượng.
Hoa Kỳ là bên bảo đảm an ninh chính cho Đài Loan, và Nhật Bản ngày càng trở thành đối tác đồng hành, nhưng việc Washington kiên quyết đòi quyền tự do đi lại qua eo biển không chỉ liên quan đến Đài Loan. Điều này phản ánh một nguyên tắc rộng hơn: quyền tự do hàng hải là một quyền tập quán hiện hữu của tất cả các quốc gia, một quyền được Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) pháp điển hóa nhưng không phải là quyền tạo ra, và Hoa Kỳ thực thi quyền này thông qua chương trình Hoạt động Tự do Hàng hải của mình.
Không quốc gia nào khác thực hiện chương trình tương tự, triển khai các nhóm tác chiến tàu sân bay trên toàn cầu để khẳng định quyền quá cảnh, hoặc thách thức các yêu sách hàng hải quá mức ở quy mô tương đương. Trọng lượng pháp lý đằng sau lập trường của Washington là rất đáng kể: theo Điều 58 của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) , ngay cả trong vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia ven biển, quyền tự do hàng hải cũng không thể bị hạn chế, có nghĩa là Trung Quốc không có cơ sở pháp lý nào để ngăn chặn việc quá cảnh qua hành lang biển nằm ngoài lãnh hải 12 hải lý của mình.
Tầm quan trọng kinh tế của vấn đề này càng nhấn mạnh việc giữ cho eo biển không bị Trung Quốc kiểm soát. Khoảng 44% đội tàu container toàn cầu đi qua eo biển này hàng năm, cùng với 88% số tàu lớn nhất tính theo trọng tải. Hơn 95% lượng dầu thô của Nhật Bản và 65% lượng dầu thô của Hàn Quốc đến từ các nhà cung cấp Trung Đông, và các tàu chở dầu của họ đi theo tuyến đường trực tiếp nhất qua eo biển Đài Loan.
Nếu Trung Quốc chiếm được Đài Loan, họ sẽ kiểm soát cả hai bờ eo biển, khiến cho bất kỳ yêu sách nào về việc điều tiết giao thông đường thủy đều trở nên khả thi hơn trên thực tế, ngay cả khi điều đó vẫn bất hợp pháp theo luật quốc tế. Bắc Kinh từ lâu đã thể hiện ý định khẳng định quyền tài phán đối với tuyến đường thủy này, và việc kiểm soát thực tế cả hai bờ biển sẽ hiện thực hóa tham vọng đó.
Phản ứng của Bắc Kinh đối với các chuyến đi của Nhật Bản qua biên giới biển lớn hơn và gay gắt hơn thường lệ. Bộ Tư lệnh Chiến khu phía Đông của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã điều động nhóm tác chiến hải quân 133 đi qua eo biển Yokoate, một tuyến đường thủy xuyên qua quần đảo Ryukyu gần đất liền Nhật Bản, vào Tây Thái Bình Dương.
Trong một động thái riêng biệt, tàu sân bay Liêu Ninh đã đi qua eo biển Đài Loan vào ngày 20 tháng 4 và hướng về phía nam ra Biển Đông. Bộ Tư lệnh Chiến khu phía Đông mô tả cả hai động thái này là “hoạt động huấn luyện thường lệ được tổ chức theo kế hoạch hàng năm” và “không nhằm vào bất kỳ quốc gia hay mục tiêu cụ thể nào”, nhưng thành phần và thời điểm của các lực lượng cho thấy điều ngược lại.
Vì chiến trường chính của cuộc tập trận Balikatan đang diễn ra giữa Mỹ và Philippines tập trung ở phía bắc Luzon, nên các hoạt động đồng thời của Hải quân Trung Quốc (PLAN) do nhóm tác chiến 133 thực hiện ở Biển Philippines và tàu sân bay Liêu Ninh ở Biển Đông cấu thành cái mà các nhà phân tích mô tả là một cuộc diễn tập bao vây chiến thuật nhắm vào các lực lượng hoạt động gần Luzon, với việc Trung Quốc thực hành gây áp lực lên lực lượng Mỹ và đồng minh từ hai hướng cùng một lúc.
Việc triển khai này cũng diễn ra sau cuộc gặp giữa Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae với giới lãnh đạo Mỹ, và các nhà phân tích đánh giá đây là động thái nhằm thể hiện quyết tâm của mình với Tokyo đồng thời định hình cán cân quân sự trước thềm các cuộc đàm phán ngoại giao cấp cao với Washington.
Thành phần nhóm tác chiến Liêu Ninh được xác nhận công khai gần đây nhất, từ đợt triển khai ở Tây Thái Bình Dương tháng 12 năm 2022, bao gồm hai tàu khu trục Type 055, một tàu khu trục Type 052D, một tàu hộ vệ Type 054A và một tàu tiếp tế.
Mặc dù PLA chính thức coi việc triển khai này là hoạt động thường lệ, nhưng nó không diễn ra một cách ngẫu nhiên. Một kịch bản khả thi hơn trong ngắn hạn là tàu sân bay Liêu Ninh sẽ hội quân với nhóm tàu sân bay Sơn Đông ở Biển Đông, có thể là bước chuẩn bị ban đầu cho các cuộc tập trận viễn dương hai hoặc ba tàu sân bay vào cuối năm 2025.
Tháng 10 năm 2024, Hải quân Trung Quốc (PLAN) lần đầu tiên vận hành đồng thời hai nhóm tác chiến ở Biển Đông, triển khai các tàu sân bay Liêu Ninh và Sơn Đông cùng với ít nhất 11 tàu hộ tống và tiến hành các hoạt động bay của máy bay J-15 từ cả hai tàu sân bay. Việc triển khai hiện tại có thể là tiền đề để lặp lại hoặc vượt qua cột mốc đó.
Theo báo cáo quân sự về Trung Quốc năm 2025 của Lầu Năm Góc , Washington dự kiến Bắc Kinh sẽ triển khai chín nhóm tác chiến tàu sân bay vào năm 2035, tăng gấp ba lần lực lượng hiện tại và đưa Hải quân Trung Quốc trở thành đối thủ ngang tầm với hạm đội mười một tàu sân bay được Quốc hội Mỹ ủy nhiệm.