
Trong điều trị ung thư phổi, nhiều người hay nói đến thuốc đích, hóa trị, miễn dịch, xạ trị. Nhưng có một chuyện rất cơ bản lại dễ bị bỏ quên: người bệnh có đủ dinh dưỡng để đi hết phác đồ hay không.
Trong đó, protein hay chất đạm là một nền móng quan trọng. Đạm không chỉ để tạo cơ bắp. Nó còn tham gia sửa chữa mô tổn thương, là nguyên liệu cho miễn dịch, giúp lành vết thương, duy trì thể lực và hạn chế sụt cân, teo cơ trong quá trình điều trị.
Ở Việt Nam, nhiều bệnh nhân ung thư phổi rơi vào tình trạng ăn uống quá kiêng khem. Có người chỉ ăn cháo, mì, rau luộc. Có người sợ thịt, trứng, sữa là đồ tanh, đồ bổ cho u, đồ phát. Lại thêm hóa trị, xạ trị, thuốc đích hoặc miễn dịch có thể làm người bệnh chán ăn, buồn nôn, viêm miệng, tiêu chảy, rối loạn vị giác. Kết quả là cơ thể vừa bị bệnh tiêu hao, vừa không được nạp đủ nguyên liệu để phục hồi.
Nói thẳng: thuốc có đắt đến đâu mà người bệnh suy kiệt, teo cơ, thiếu đạm nặng thì điều trị cũng khó đi đường dài.
Vì sao bệnh nhân ung thư phổi dễ thiếu protein?
Có hai lý do chính.
Thứ nhất, ung thư là một tình trạng tiêu hao. Khối u và phản ứng viêm trong cơ thể làm nhu cầu năng lượng, protein tăng lên. Người bệnh có thể ăn ít hơn trước nhưng cơ thể lại cần nhiều hơn trước. Đó là nghịch lý rất hay gặp trong ung thư.
Thứ hai, chính quá trình điều trị cũng khiến việc ăn uống trở nên khó khăn. Sau mổ, cơ thể cần đạm để liền vết thương. Khi hóa trị hoặc xạ trị, người bệnh có thể buồn nôn, loét miệng, ăn mất ngon, tiêu chảy. Có người nhìn đồ ăn là sợ. Có người ăn được nhưng hấp thu kém. Lâu dần, cơ thể lấy chính cơ bắp ra làm nguồn dự trữ. Khi đó người bệnh nhìn bên ngoài là gầy đi, yếu đi, nhưng bên trong còn đáng lo hơn: sức chịu đựng điều trị giảm xuống.
4 dấu hiệu cần cảnh giác
Một là mệt rã rời, yếu cơ, đi lại kém hơn trước.
Cơ bắp là kho dự trữ protein của cơ thể. Khi thiếu đạm kéo dài, cơ bị mất dần. Người bệnh thấy người mềm nhũn, leo vài bậc cầu thang đã mệt, đi lại chậm, thậm chí xoay trở trên giường cũng khó.
Hai là vết thương lâu lành, dễ nhiễm trùng, hay sốt vặt.
Sau mổ hoặc sau các thủ thuật, nếu cơ thể thiếu protein, quá trình liền mô sẽ chậm hơn. Miễn dịch cũng yếu hơn, người bệnh dễ viêm nhiễm, sốt, cảm cúm, viêm phổi, nhiễm trùng da hoặc phải trì hoãn điều trị.
Ba là sụt cân nhanh, nhất là sụt trên 5% cân nặng trong vài tháng.
Ví dụ một người 60 kg mà giảm 3 kg không chủ ý thì đã phải để ý. Sụt cân trong ung thư không đơn giản là gầy đi cho nhẹ người. Nó có thể là dấu hiệu của suy dinh dưỡng, mất cơ, thậm chí hội chứng suy mòn ung thư.
Bốn là phù mắt cá chân, phù mi mắt, người nặng nề.
Đây có thể liên quan đến giảm albumin máu, tức là lượng protein quan trọng trong máu bị thấp. Khi albumin thấp, nước dễ thoát ra khỏi lòng mạch gây phù. Trường hợp này không nên tự mua thuốc bổ hay truyền đạm tùy tiện, mà cần bác sĩ đánh giá nguyên nhân: dinh dưỡng, gan, thận, viêm nhiễm, tiến triển bệnh hoặc tác dụng phụ điều trị.
Ăn thế nào để bổ sung đạm cho thực tế, không cực đoan?
Không phải cứ ép người bệnh ăn thật nhiều là đúng. Quan trọng là ăn đủ, dễ tiêu, chia nhỏ và phù hợp tình trạng điều trị.
Với người còn ăn được, nên ưu tiên các nguồn đạm dễ dùng trong bữa ăn Việt Nam:
Trứng hấp, trứng luộc, canh trứng, sữa không đường, sữa chua, cá hấp, cá kho mềm, thịt nạc băm, thịt gà xé nhỏ, tôm cá bỏ xương kỹ, đậu phụ, đậu nành, cháo thịt băm, cháo cá, súp gà, bún phở có thêm thịt trứng.
Người đang buồn nôn, viêm miệng, khó nuốt nên chọn món mềm, ấm vừa, ít mùi, chia thành 5 đến 6 bữa nhỏ. Một bát cháo trắng chỉ có tinh bột thì không đủ. Nhưng nếu thêm trứng, thịt băm, cá, đậu phụ hoặc sữa phù hợp thì giá trị dinh dưỡng khác hẳn.
Với người không dung nạp sữa, uống sữa vào đau bụng hoặc tiêu chảy, có thể cân nhắc sữa không lactose, sữa chua, đậu phụ, sữa đậu nành hoặc các sản phẩm dinh dưỡng y học theo tư vấn của bác sĩ, điều dưỡng dinh dưỡng hoặc chuyên gia dinh dưỡng lâm sàng.
Có nên dùng bột đạm, sữa dinh dưỡng?
Có thể, nhưng không nên dùng theo kiểu thấy ai mách gì mua nấy.
Khi bệnh nhân ăn quá ít, sụt cân nhanh, sau mổ, đang hóa xạ trị hoặc có dấu hiệu thiếu đạm, các sản phẩm bổ sung protein có thể giúp bù phần thiếu hụt. Tuy nhiên cần chọn loại phù hợp với bệnh nền.
Người có suy thận, bệnh gan nặng, đái tháo đường, gout, rối loạn điện giải hoặc đang phù nhiều thì không nên tự ý dùng liều cao. Dùng sai có thể làm nặng thêm gánh nặng chuyển hóa. Tốt nhất là hỏi bác sĩ điều trị hoặc chuyên gia dinh dưỡng ung thư.
Cũng cần nói rõ: bột đạm không thay thế bữa ăn. Nó chỉ là phần bổ sung khi bữa ăn không đủ.
Đừng quên các chất hỗ trợ khác
Protein là nền móng, nhưng cơ thể không chỉ cần mỗi protein. Người bệnh cũng cần đủ năng lượng từ tinh bột tốt và chất béo phù hợp. Nếu chỉ ăn thịt cá mà thiếu năng lượng, cơ thể vẫn có thể lấy protein đem đốt làm năng lượng, thay vì dùng để sửa chữa mô và duy trì cơ.
Vitamin C từ rau quả phù hợp giúp hỗ trợ tổng hợp collagen và liền mô. Kẽm tham gia vào miễn dịch và phục hồi tổn thương. Omega-3 trong một số loại cá béo có thể có lợi cho tình trạng viêm và suy mòn ở một số bệnh nhân. Nhưng mọi bổ sung đều nên vừa phải, không thần thánh hóa thành thuốc chữa ung thư.
Kết lại
Trong ung thư phổi, ăn uống không thay thế điều trị, nhưng ăn sai và kiêng khem quá mức có thể làm người bệnh mất cơ hội đi hết điều trị.
Đừng để bệnh nhân chỉ sống bằng cháo trắng, nước hầm xương và niềm tin rằng ăn thanh đạm là tốt. Thanh đạm không đồng nghĩa với thiếu chất. Kiêng khem không đúng có khi còn nguy hiểm hơn ăn uống bình thường.
Mỗi bữa ăn đủ đạm, đủ năng lượng, dễ tiêu và phù hợp thể trạng chính là một phần của điều trị hỗ trợ. Không hào nhoáng, không đắt đỏ như thuốc mới, nhưng rất căn bản: cơ thể còn sức thì mới có cơ hội đi đường dài.
VietBF@sưu tập