Đó là câu hỏi khiến tôi trăn trở khi theo dõi loạt bài về văn hoá ẩm thực dân gian Việt Nam trên báo Sài Gòn Tiếp Thị. Tôi đặc biệt chú ý đến những phát biểu đầy tâm huyết của nhà ngoại giao Tôn Nữ Thị Ninh khi bức xúc chuyện đãi tiệc cho khách nước ngoài của chúng ta trên SGTT
Khi tiệc không có món Việt

Điều đáng nói, theo lời của bà Ninh, món Việt chưa xuất hiện nhiều trên các bàn tiệc ngoại giao, một điều mà bà cho là “
thật vô lý khi người nước ngoài đến, ta dùng món Tây để đãi”. Càng vô lý hơn chuyện đó đã diễn ra nhiều năm mà không có sự thay đổi. Món ăn trên bàn tiệc, theo nhận xét của đại sứ, “chưa bao giờ hài hoà, chỉn chu và đúng bản sắc”. Đó là điều thật sự đáng suy ngẫm. Tôi nhớ, nhiều triều đại phong kiến Việt Nam trước đây có hẳn cơ quan chuyên lo chuyện yến tiệc đãi khách, toàn những món ngon vật lạ, những sản vật từ các địa phương. Ngày nay, tất nhiên, chuyện đó cũng được quan tâm. Nhưng không hiểu sao, nhìn trên bàn tiệc có nhiều món Tây như nhận xét của bà Tôn Nữ Thị Ninh thì thật là “bức xúc lắm thay !”.
Có dịp tham dự một số buổi tiệc đãi khách nước ngoài, tôi có cảm giác dường như người ta chuộng dùng món “Tây”. Có thể là để khách dễ ăn, không phải bỡ ngỡ, tránh được những “cú sốc văn hoá” khi đến Việt Nam . Nhưng cũng có thể để “khoe” tài nghệ của các đầu bếp Việt Nam: nấu món Tây cũng ngon như người Tây ! Tiệc nhỏ, tiệc to gì cũng thế. Không lẽ đầu bếp Việt Nam chỉ giỏi có vậy hay sao?
Tất nhiên là không rồi. Vì nếu “rộng tay” mà xét, mỗi người Việt Nam đều có thể là một đầu bếp giỏi. Đơn giản, dù ở vị trí nào đi nữa, tất cả đều chú trọng chuyện ăn uống. Bởi đó không chỉ đơn thuần là nhu cầu tự nhiên, sinh tồn mà đã được xem là một nghệ thuật. Rộng hơn nữa, nó là một yếu tố của nền văn hoá Việt Nam rất đa dạng. Chuyện ăn uống với người Việt là thể hiện tính cách, lối sống, tình nghĩa của con người và gửi gắm những triết lý nhân sinh vô cùng sâu sắc. Cứ nhìn qua món ăn, cách ăn cũng có thể biết được đặc trưng của từng vùng miền, tính cách, cá tính mỗi người. Đặc biệt, dù tài nấu ăn hay dở, khi có khách đến, chủ nhà cũng tự tay mình nấu cơm mời khách. Đơn giản thì cơm canh đạm bạc hay cầu kỳ một chút nếu khá giả nhưng cốt là để thể hiện tình cảm mến khách, chân thành, khiến khách nhớ về mình. Nhưng hiện nay, người ta thích làm điều ngược lại. Tức là muốn làm hài lòng khách, muốn khách nhớ bằng… chính những món ăn rất quen thuộc của họ. Như thế, xem ra, món Việt trên bàn tiệc đã “thua” ngay trên sân nhà. Kết quả là món ăn thuần Việt ngày càng hiếm hoi trên các bàn tiệc chính thức cũng như trong các nhà hàng, khách sạn. Bởi thế, dù có điều kiện phát triển du lịch hơn hẳn nhiều nước nhưng chúng ta vẫn phải loay hoay đi tìm nét đặc trưng, riêng biệt cho du lịch của mình.
Trong khi đó, các nước Thái Lan, Singapore… điều kiện để phát triển du lịch có phần không được như ta nhưng vẫn khiến khách quốc tế ùn ùn kéo đến. Từ cái thua nho nhỏ trên bàn tiệc, chúng ta phần nào cũng thua luôn trong ngành “công nghiệp không khói”.
Hãy làm ngay!
Tôi nghĩ đã đến lúc cần “trả” món Việt về đúng vị thế của nó. Phải làm sao món Việt xuất hiện ngày càng nhiều trên bàn tiệc. Đó không chỉ là sự khẳng định của những giá trị văn hoá, của tiềm năng và sức bật mới của dân tộc, đất nước mà còn là cách tiếp thị hình ảnh Việt Nam một cách rất tốt. Không gì khiến người ta nhớ lâu bằng món ăn. Bởi đó là văn hoá, là nghệ thuật. Khi đó, khách đến Việt Nam chắc sẽ có thêm lý do để nhớ đến Việt Nam và họ sẽ Quay lại. Quan trọng hơn, hình ảnh, văn hoá Việt Nam sẽ được giới thiệu đến khắp nơi trên thế giới mà trong đó, ẩm thực chính là một trong những “sứ giả” quảng bá xuất sắc nhất.
Cũng không thể quảng bá, cổ động cho ẩm thực Việt Nam bằng những tuyên bố mà hãy hành động ngay. Cần phải chú trọng phát triển món ăn gắn với thương hiệu mà trong đó những người trẻ cần được hướng dẫn, khuyến khích. Phải làm sao để họ tự tin giới thiệu món ăn Việt, dùng món Việt. Chúng tôi đã thấy ở TP.HCM đã có những người trẻ như thế. Họ mở nhà hàng, mở website giới thiệu ẩm thực Việt Nam. Những người trẻ, vâng, chính họ, sẽ có thể và phải làm điều đó. Hiện nay, ở TP.HCM có những “thương hiệu” hút khách chú trọng phát triển những món ăn thuần tuý dân tộc như Phở 24, Bún Ta… Như thế thì hoàn toàn có lý do để những nhà hàng mà món “chủ lực” là mắm, bún bò Huế, nem Lai Vung, Nha Trang… ra đời. Những món ấy dĩ nhiên có lý do để xuất hiện trên bàn tiệc. Tại sao không nhỉ?
Cũng cần nói đến vai trò của giới truyền thông mà nỗ lực nghiên cứu, sưu tầm ẩm thực dân gian Việt Nam của SGTT là một điều đáng trân trọng. Chính sự “vào cuộc” của các cơ quan truyền thông sẽ tác động rất lớn đến việc thay đổi hình ảnh bàn tiệc ở Việt Nam, để ẩm thực Việt phát triển đúng tiềm năng và bản sắc của nó trong bối cảnh hội nhập.
Nói tóm lại, đã đến lúc phải “định vị” lại vị trí của món Việt trên bàn tiệc bằng những hành động thật cụ thể. Tôi nhớ có người từng khẳng định, đại ý là một người bán phở ở nước ngoài thậm chí còn có công nhiều hơn cả những nhà nghiên cứu văn hoá. Thế đấy, những hành động cụ thể, sẽ có tác động hơn cả những lời tuyên bố ồn ào, những dự án lớn lao nhưng luôn nằm trên giấy và câu hỏi “có xấu hổ không khi đãi Tây bằng món Tây?” không còn day dứt…
vnn